- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Văn P Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng - chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí qu…"
- Tòa quyết gì? C n cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo V ng V n P, giữ nguyên bản án hình sự s thẩm số 03/2026/HSST ngày 13/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2026/HS-PT Ngày: 24 - 3 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Minh Tuân
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Mạnh Toàn
Ông D ng V n Bản
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Quỳnh Chi - Th ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Bà Đinh Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 n m 2026 tại Trụ sở Toà án nhân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự, thụ lý số 19/2026/TLPT-HS ngày 13 tháng 02 n m 2026, do có kháng cáo của bị cáo V ng V n P đối với bản án hình sự s thẩm số 03/2026/HSST ngày 13/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên.
Bị cáo có kháng cáo:
Vương Văn P; tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 10 tháng 01 n m 1999; N i đ ng ký HKTT: Xóm B, xã V, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ v n hóa: 09/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin Lành; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: V ng V n D và bà La Thị M; Có vợ là Ngô Thị H; có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Ng ời bào chữa cho bị cáo: Luật s Nguyễn Đình S – Trung tâm T. (có mặt)
Trong vụ án này có ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị, vắng mặt do Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Hồi 07 giờ 30 phút ngày 26/8/2025, tổ công tác của Phòng An ninh điều tra Công an tỉnh T, phối hợp với Công an xã V tiến hành tuần tra đảm bảo an ninh trật tự và nắm tình hình về các đối t ợng có hoạt động liên quan đến hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí trên địa bàn xã V, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện V ng V n M1, sinh n m 2000, trú tại xóm B, xã V, tỉnh Thái Nguyên đang điều khiển xe mô tô BKS 20B2-51.395, tổ công tác đã giữ lại để kiểm tra, phát hiện bên trong ba lô để trên giá để xe phía tr ớc có 03 bộ phận của súng nén h i và 02 hộp nhựa màu vàng bên trong có 250 viên đạn chì hình nấm, V ng V n P, sinh n m 1999, điều khiển xe mô tô BKS 21B1-168.70 khi tổ công tác kiểm tra đã bỏ chạy. Ngay sau khi bắt giữ đ ợc V ng V n M1, C quan điều tra đã yêu cầu Mạnh lắp 03 bộ phận của súng thành 01 khẩu súng có sự chứng kiến của Điều tra viên và ng ời chứng kiến.
Đến 13 giờ cùng ngày P đã đến C quan điều tra để làm việc, tại C quan điều tra P khai nhận: Khoảng tháng 5/2025, do có nhu cầu s n bắn, V ng V n P lên mạng xã hội Facebook tìm mua súng và đạn thì thấy có 01 tài khoản Facebook đ ng bài quảng cáo bán súng nén h i cùng đạn chì, P sử dụng tài khoản Facebook của mình nhắn tin trao đổi với ng ời sử dụng tài khoản Facebook này và đặt mua của ng ời này 01 khẩu súng nén h i với giá 3.500.000 đồng và 02 hộp đạn chì với giá 200.000 đồng việc giao dịch mua bán qua đ ờng chuyển phát nhanh (nhận hàng giao tiền), khoảng 1 tuần sau có một ng ời đi xe mô tô đến nhà P giao hàng, P kiểm tra thấy đúng hàng mình đặt mua nên đã thanh toán số tiền 3.700.000 đồng bằng tiền mặt cho ng ời giao hàng.
Sau khi mua, P cất giấu tại nhà và đã mang súng, đạn lên núi bắn thử một vài lần, trong ngày 25 và ngày 26/8/2025, có một ng ời đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ gọi điện, nhắn tin cho P hỏi muốn mua khẩu súng nén h i và 02 hộp đạn chì nêu trên với giá 5.500.000 đồng, P đồng ý bán và hai bên thống nhất giao dịch mua bán súng, đạn tại Cầu V, thuộc xã V, tỉnh Thái Nguyên. Rạng sáng ngày 26/8/2025, ng ời mua súng, đạn gọi điện đặt mua thêm với Pình một can mật ong, do phải mang nhiều đồ không có chỗ để trên xe máy nên P đã đến nhà em trai của P là V ng V n M1 để nhờ M1 cùng đi chở đồ cho khách. Pình đã nhờ M1 chở hộ chiếc ba lô màu rằn ri đã buộc kín bên trong có khẩu súng nén h i đã đ ợc tháo rời thành ba bộ phận và 02 hộp đạn, M1 không biết trong ba lô đó có súng và đạn. Khi P và M1 di chuyển trên đ ờng liên xã thuộc khu vực dốc Khe Ho, xóm B, xã V, tỉnh Thái Nguyên để mang khẩu súng nén h i và 02 hộp đạn chì đi bán thì bị lực l ợng Công an kiểm tra phát hiện, thu giữ và lập biên bản, niêm phong theo quy định.
Ngày 22/9/2025 C quan điều tra đã xác định hiện tr ờng tại nhà ở của V ng V n P xóm B, xã V, tỉnh Thái Nguyên, xác định n i P cất giấu khẩu súng là khu vực sát t ờng phòng khách gần gian bếp, cách cửa ra vào ngôi nhà 2,2m.
Tại Bản kết luận giám định số 229/KL-KTHS, ngày 02/9/2025 của Phòng K, Công an tỉnh T kết luận:
- Khẩu súng niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là súng nén h i, thuộc vũ khí quân dụng. Hiện súng còn sử dụng để bắn đ ợc.
- 150 (một tr m n m m i) viên đạn niêm phong ký hiệu A2 và 100 (một tr m) viên đạn niêm phong ký hiệu A3 gửi giám định là đạn kim loại hình nấm, thuộc vũ khí quân dụng. Hiện đạn còn sử dụng để bắn đ ợc, các viên đạn này sử dụng bắn đ ợc cho khẩu súng trong niêm phong ký hiệu Al gửi giám định.
Bản án s thẩm số 03/2026/HSST ngày 13/01/2026, Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên đã xét xử bị cáo V ng V n P về tội: “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”;
C n cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo V ng V n P 24 (hai m i bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra bản án s thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Sau khi xét xử s thẩm, ngày 16/01/2026, bị cáo V ng V n P có đ n kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin h ởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án. Tòa án cấp s thẩm xét xử bị cáo về tội Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự là có c n cứ, đúng ng ời, đúng tội. Mức án đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp, không nặng, tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có c n cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của bị cáo V ng V n P, giữ nguyên bản án hình sự s thẩm.
Bị cáo không tranh luận với kết luận của Viện kiểm sát.
Luật s bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát và tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo sinh sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó kh n, gia đình thuộc diện hộ nghèo, nhận thức pháp luật hạn chế, nhất thời phạm tội, đề nghị giảm một phần hình phạt và cho bị cáo đ ợc cải tạo tại địa ph ng.
Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo để cho bị cáo đ ợc h ởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:
. Về thủ tục tố tụng: Đ n kháng cáo của bị cáo V ng V n P gửi trong thời hạn và đúng theo thủ tục quy định nên đ ợc chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
. Xét kháng cáo của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án. Tòa án cấp s thẩm xét xử bị cáo về tội Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự là có c n cứ, đúng ng ời, đúng tội. Mức án đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp, không nặng, tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có c n cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có c n cứ chấp nhận.
. Về án phí: Bị cáo đ ợc miễn án phí theo quy định.
. Các quyết định khác của bản án s thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
C n cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo V ng V n P, giữ nguyên bản án hình sự s thẩm số 03/2026/HSST ngày 13/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên. 1. Về hình phạt: C n cứ khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo V ng V n P 24 (hai m i bốn) tháng tù về tội: “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án 2. Án phí: C n cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Th ờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo V ng V n P không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm. 3. Các quyết định khác của bản án s thẩm số 03/2026/HSST ngày 13/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Sở T pháp tỉnh Thái Nguyên; - TAND khu vực 5; - VKSND khu vực 5; - THADS tỉnh Thái Nguyên; - Công an tỉnh Thái Nguyên; - Bị cáo; - L u hồ s vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Tuân |