vanban.org

Bản án 27/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Kim T được ly hôn với anh Phạm Phong N.

Về con chung: Giao chị Lê Thị Kim T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Phúc A, sinh ngày 13/3/2023 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Phạm Phong N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Việc cấp dưỡng nuôi con đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về tài sản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con Lê Thị Kim T và Phạm Phong N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Kim T được ly hôn với anh Phạm Phong N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 29-01-2026
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nghiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Hoàng Hiệp

Ông Ngô Văn Tân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ.

Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 167/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 304/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim T, sinh ngày 01/01/2000 (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

CCCD số: xxxxxxxxxxxx, ngày cấp 27/5/2024.

Địa chỉ: Khu V, phường M, thành phố Cần Thơ.

Chỗ ở hiện nay: Số nhà A, khu vực M, phường M, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Anh Phạm Phong N, sinh ngày 30/4/1999 (vắng mặt).

CCCD số: xxxxxxxxxxxx, ngày cấp 12/8/2021.

Địa chỉ: Khu V, phường M, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 23/10/2025, nguyên đơn chị Lê Thị Kim T trình bày:

Chị Lê Thị Kim T và anh Phạm Phong N đăng ký kết hôn ngày 10/6/2022 tại UBND phường 3, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nay là UBND phường M, thành phố Cần Thơ). Thời gian đầu khi mới chung sống với nhau vợ chồng rất hạnh phúc, tuy nhiên hiện nay nhận thấy không hợp nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, nên muốn trả tự do cho nhau. Vợ chồng đã ly thân từ khoảng tháng 08 năm 2025 đến nay, kể từ khi ly thân chị T về nhà mẹ ruột sinh sống tại địa chỉ nhà số A, khu V, phường M, thành phố Cần Thơ đến nay. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Phúc A, sinh ngày 13/3/2023, hiện con đang sống cùng mẹ. Chị T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận. Không yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết. Về nợ chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Không yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết.

- Bị đơn anh Phạm Phong N vắng mặt, không có lời trình bày:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị Kim T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Phạm Phong N vắng mặt không lý do, phiên toà đã mở lần hai, căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 62 ngày 10/6/2022 của Ủy ban nhân dân phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nay là UBND phường M, thành phố Cần Thơ) thể hiện, vào ngày 10/6/2022 chị Lê Thị Kim T và anh Phạm Phong N có đăng ký kết hôn với nhau, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, do vậy hôn nhân này là hợp pháp. Theo nguyên đơn chị T trình bày quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên muốn trả tự do cho nhau và vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 08 năm 2025 đến nay, chị T đã về nhà mẹ ruột sinh sống. Toà án đã tiến hành tổ chức hòa giải nhiều lần nhưng anh N không tham gia nên không tiến hành hoà giải được, anh N biết được thông tin chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn, nhưng không phản hồi ý kiến cho Toà án. Điều này chứng tỏ anh N không có nguyện vọng hoặc mong muốn được hàn gắn với chị T. Việc nam nữ đăng ký kết hôn với nhau xuất phát từ mong muốn tìm kiếm hạnh phúc trong cuộc sống gia đình. Tuy nhiên, nếu hôn nhân không như mong muốn, không còn hạnh phúc trong cuộc sống vợ chồng thì ly hôn chính là giải pháp cho cả hai, nên không thể bắt buộc chị T phải tiếp tục chung sống với anh N nếu như chị không còn tình cảm và thực tế hiện nay vợ chồng đã không còn chung sống với nhau là vi phạm tình nghĩa vợ chồng được luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, giải quyết cho chị T được ly hôn với anh N.

Về con chung: Chị T trình bày quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Phúc A, sinh ngày 13/3/2023, hiện con đang sống cùng mẹ. Chị T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Anh N không phản hồi ý kiến cho Tòa án về quyền nuôi con. Xét thấy, chị T và anh N không thỏa thuận được việc ai là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nhưng cháu A dưới 36 tháng tuổi, hiện đang sống ổn định cùng mẹ là chị T, căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Từ quy định trên cũng như đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp về mọi mặt của con dưới 36 tháng tuổi, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, giao con chung là cháu Phạm Phúc A cho chị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi (thành niên). Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Việc cấp dưỡng nuôi con đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị Kim T phải chịu án phí ly hôn số tiền 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp, chị T đã nộp xong án phí.

Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Kim T được ly hôn với anh Phạm Phong N.

2. Về con chung: Giao chị Lê Thị Kim T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Phúc A, sinh ngày 13/3/2023 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Phạm Phong N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Việc cấp dưỡng nuôi con đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

3. Án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị Kim T có nghĩa vụ nộp án phí số tiền 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0009530 ngày 13/11/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, chị T đã nộp xong án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ