vanban.org

Bản án 27/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Như M.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Như M được ly hôn với anh Trần Thanh L. Về con chung: Giao 01 (một) con chung tên là Trần Trương Bảo T, sinh ngày 05/10/2018 cho chị Trương Thị Như M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị M"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Như M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC … – ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 11-02-2026
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC … – ĐẮK LẮK

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tân Sang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Cang và ông Thiều Minh Trương .

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dung – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực ... – Đắk Lắk.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực ...- Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Phát - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11/02/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực ... – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 171/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 13/2026/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Như M, sinh năm 2000; Địa chỉ: Khu phố V, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Thanh L, sinh năm 1998; Địa chỉ: Khu phố P, phường P, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/9/2025, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trương Thị Như M trình bày được tóm tắt như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh L tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là phường P, tỉnh Đắk Lắk) cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 24/9/2018. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau dẫn đến kình cãi nhau nên tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Mâu thuẫn vợ chồng được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành. Chị M và anh L sống ly thân từ tháng 01/2025 cho đến nay không ai quan tâm, chăm sóc đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị M yêu cầu được ly hôn với anh L.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị M và anh L có 01 con chung tên là Trần Trương Bảo T, sinh ngày 05/10/2018, hiện đang sống với chị M. Ly hôn, chị M yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu T và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị M trình bày không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Bị đơn anh Trần Thanh L vắng mặt nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị M vẫn giữ nguyên lời trình bày.

Bị đơn anh L vắng mặt nên không có lời trình bày.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Phát biểu ý kiến về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị M cụ thể: Về quan hệ hôn nhân: Chị M được ly hôn với anh L; Về con chung: Giao cháu T cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét; Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trương Thị Như M vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Trần Thanh L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Như M và anh Trần Thanh L tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là phường P, tỉnh Đắk Lắk) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 59/2018 ngày 24/9/2018 nên được coi là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, theo chị M nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau dẫn đến kình cãi nhau nên tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Chị M và anh L sống ly thân từ tháng 01/2025 cho đến nay không ai quan tâm, chăm sóc đến ai. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ cho anh L để lấy lời khai và hòa giải nhưng anh L không đến Tòa cũng như tại phiên tòa hôm nay anh L vẫn không có mặt. Như vậy cho thấy anh L không có thiện chí hòa giải khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ. Xét mâu thuẫn giữa chị M và anh L đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M đối với anh L.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị M và anh L có 01 con chung tên là Trần Trương Bảo T, sinh ngày 05/10/2018. Hội đồng xét xử thấy rằng: Hiện nay cháu T đang sống với chị M, vẫn đảm bảo cuộc sống về thể chất và sự phát triển tâm sinh lý bình thường của cháu T. Do đó, để không làm xáo trộn cuộc sống và phù hợp nguyện vọng của cháu T nên cần tiếp tục giao cháu T cho chị M trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị M không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những căn cứ nêu trên nên chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về án phí: Nguyên đơn chị M phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Như M.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Như M được ly hôn với anh Trần Thanh L.

2. Về con chung: Giao 01 (một) con chung tên là Trần Trương Bảo T, sinh ngày 05/10/2018 cho chị Trương Thị Như M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trương Thị Như M không yêu cầu anh Trần Thanh L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp cần thiết có thể yêu cầu thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng.

3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Trương Thị Như M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002178 ngày 13/10/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực ... – Đắk Lắk.

5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ