vanban.org

Bản án 27/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Cà Thị D, xử cho chị Cà Thị D được ly hôn anh Hoàng Văn M.

Về con chung: Giao cháu Hoàng Thị N, sinh ngày 04/7/2014 cho chị Cà Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy đinh của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn Cà Thị D - Hoàng Văn M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Cà Thị D, xử cho chị Cà Thị D được ly hôn anh Hoàng Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - SƠN LA
———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27
/2026/HNGĐ-ST
Ngày 10 - 02 -2026
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Văn Quang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Nguyên Hồng và ông Nguyễn Đức Việt.

- Thư ký phiên Tòa: Ông Lường Văn Dục - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thuỷ - Kiểm Sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 82/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, Theo quyết định xét xử số: 27/2026/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2026; Quyết định hoãn phiên toà số 17/2026/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2026 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Cà Thị D, sinh năm 1994. Địa chỉ: Bản K, xã C, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn M, sinh năm 1995. Địa chỉ: Bản K, xã C, tỉnh Sơn La. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Cà Thị D trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn M kết hôn với nhau vào ngày 27 tháng 01 năm 2015. Khi kết hôn hai anh chị đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Chiềng Chăn, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La cũ, nay là UBND xã Chiềng Sung. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với bố mẹ chồng, cuộc sống chung vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Hoàng Văn M lười lao động, nghiện ma tuý, không chăm lo đến gia đình vợ con, lâu dần không còn tình cảm, không quan tâm gì đến nhau, vợ chồng sống ly thân nhau từ năm 2021 cho đến nay. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên khuyên bảo nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nguyện vọng của chị D xin được ly hôn anh Hoàng Văn M.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị có 01 con chung: Cháu Hoàng Thị N, sinh ngày 04/7/2014. Trường hợp ly hôn nguyện vọng của chị D xin được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Hoàng Thị N đến tuổi trưởng thành 18 tuổi, không yêu cầu anh Hoàng Văn M phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Hai anh chị tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn: Anh Hoàng Văn M đã nhận được thông báo của Toà án, nhưng không chấp hành.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm; các đương sự đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cà Thị D, Xử cho chị Cà Thị D được ly hôn với anh Hoàng Văn M.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình, đề nghị tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; cho chị Cà Thị D được ly hôn với anh Hoàng Văn M;

Về con chung: Giao cháu Hoàng Thị N, sinh ngày 04/7/2014 cho chị Cà Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn M chưa phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung: Hai anh chị tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và đã được xem xét thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Sơn La tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về pháp luật tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Chị Cà Thị D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung đối với anh Hoàng Văn M, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Hoàng Văn M có nơi cư trú cuối cùng là Bản K, xã C, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.

Bị đơn anh Hoàng Văn M vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Theo nguyên đơn trình bày: Chị Cà Thị D và anh Hoàng Văn M kết hôn với nhau vào ngày 27/01/2015. Khi kết hôn hai anh chị đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Chiềng Sung, tỉnh Sơn La.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với bố mẹ chồng, cuộc sống chung vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Hoàng Văn M lười lao động, nghiện ma tuý, không chăm lo đến gia đình vợ con, lâu dần không còn tình cảm, không quan tâm gì đến nhau, vợ chồng sống ly thân nhau từ năm 2021 cho đến nay. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên khuyên bảo nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nguyện vọng của chị D xin được ly hôn anh Hoàng Văn M.

Việc anh chị có đăng ký kết hôn làm phát sinh quyền lợi, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên trong quá trình chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẫn, không còn tình cảm, hai bên đã ly thân không còn qua lại quan tâm nhau nữa. theo xác minh tại địa phương xác định vợ chồng chị D, anh M có đăng ký kết hôn như chị D đã trình bày, quá trình chung sống hai anh chị đã xảy ra nhiều mâu thuẫn và vợ chồng đã sống ly thân nhau mỗi người một nơi từ năm 2021 cho đến nay, hai bên không có biện pháp hàn gắn gia đình, nên chị D thấy tình cảm không còn và yêu cầu ly hôn với anh M là có căn cứ. Nay chị D có đề nghị được ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh M và chị D đã thực sự trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cà Thị D, cho chị Cà Thị D được ly hôn anh Hoàng Văn M.

Về con chung: Chị D và anh M có 01 con chung: Vì cháu đã có đơn trình bày nguyện vọng được ở với mẹ sau khi ly hôn, nên chấp nhận theo nguyện vọng của cháu, cụ thể:

Giao cháu Hoàng Thị N, sinh ngày 04/7/2014 cho chị Cà Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy đinh của pháp luật.

Anh Hoàng Văn M chưa phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung: Hai anh chị tự nguyện thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về vay nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Cà Thị D là nguyên đơn nên phải chịu toàn bộ án phí xin ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 232; Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Cà Thị D, xử cho chị Cà Thị D được ly hôn anh Hoàng Văn M.

2. Về con chung:

Giao cháu Hoàng Thị N, sinh ngày 04/7/2014 cho chị Cà Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy đinh của pháp luật.

Anh Hoàng Văn M chưa phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Không ai được cản trở quyền trông nom, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

3. Về tài sản chung: Hai anh chị tự nguyện thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Chị Cà Thị D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp 300.000 đồng theo biên lại số: 0000591 ngày 27 tháng 10 năm 2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4, tỉnh Sơn La.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Cà Thị D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/02/2026).

Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản sao bản án.

Cỡ chữ