vanban.org

Bản án 27/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 16/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn H 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 06/7/2024. Về xử lý vật chứng: căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P,
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST
Ngày: 16-01-2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Nữ Kiều Mỹ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Bính

Ông Phạm Định Quốc

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Trang - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 281/2024/HSST ngày 19 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN H (tên thường gọi: Vịt C), sinh năm 1983 tại tỉnh Bình Thuận.

HKTT: khu phố 7, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: khu phố 5, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1947; anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ: Trần Thị Thanh B, sinh năm 1984. Con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2011.

Tiền án: Ngày 02/8/2016, TAND tỉnh Bình Thuận xử phúc thẩm phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 80, chấp hành xong hình phạt ngày 17/6/2017, hiện chưa nộp tiền bồi thường cho bị hại số tiền 41.859.000 đồng theo Quyết định thi hành án số 1707 ngày 24/8/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P. Tiền sự: không.

Nhân thân:

- Ngày 28/01/2002, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận áp dụng biện pháp

đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng tại Quyết định 248/QĐ, chấp hành xong ngày 31/01/2004.

- Ngày 03/7/2024, bị Công an thành phố P xử phạt hành chính số tiền 8.000.000 đồng về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân” và “Đổ, ném hóa chất vào nhà ở của người khác” tại Quyết định số 36/QĐ-XPHC, chưa đóng phạt.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/7/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985.

Địa chỉ: khu phố 5, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Bà Võ Thị Thanh T3, sinh năm 1983.

Địa chỉ: ấp 3, xã Phú Lợi, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

+ Bà Lƣơng Bửu P, sinh năm 1967.

Địa chỉ: khu phố 7, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/6/2024, Nguyễn Văn H đến nhà nghỉ T tại khu phố 5, phường M, thành phố P do Nguyễn Văn T2 làm chủ để cầm thế chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax cho chị Võ Thị Anh T3, là nhân viên quản lý của Nhà nghỉ T nhưng không gặp được chị T3 thì H gọi điện thoại cho chị T3 nói: “Cần cầm thế chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax với giá 3.000.000 đồng”, T3 đồng ý và nói: “H thoát iCloud, tắt nguồn điện thoại di động, đưa điện thoại cho bà Lương Bửu P, rồi nói bà P đưa 3.000.000 đồng cho H”. Khi gọi cho chị T3 xong, H tắt nguồn điện thoại di động, H gói chiếc điện thoại vào trong giấy vệ sinh, rồi đưa cho bà P, H nói với bà P: “Đưa 3.000.000 đồng cho H”. Bà P cầm điện thoại được gói trong giấy vệ sinh (không kiểm tra bên trong), đem cất giữ trong tủ, rồi lấy 3.000.000 đồng đưa cho H, sau đó bà P gọi điện thoại cho chị T3 nói: “Đã cầm thế chiếc điện thoại di động cho H với giá 3.000.000 đồng”, chị T3 hỏi lại bà P: “H đã thoát iCloud và tắt nguồn điện thoại chưa?”, bà trả lời: “Không rành nên không biết”.

Đến ngày 19/6/2024, chị T3 đến nhà nghỉ T thì bà P lấy điện thoại được gói trong giấy vệ sinh do H đã cầm thế đưa cho chị T3, chị T3 kiểm tra bên trong là cái vỏ điện thoại, không có chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax nên chị T3 gọi điện thoại cho H và nói H đến nhà nghỉ T để giải quyết. H không đến, H nhắn tin yêu cầu chị T3 phải trả số tiền 26.300.000 đồng để bồi thường chiếc điện thoại Iphone 14 ProMax của H đã cầm thế.

Do chị T3 không trả tiền bồi thường chiếc điện thoại Iphone 14 ProMax cho H nên ngày 29/6/2024 và ngày 30/6/2024, H đem nhớt bẩn và sơn đến nhà nghỉ T tìm chị T3 nhưng chị T3 không có mặt ở nhà nghỉ nên H tạt nhớt bẩn và sơn vào cửa cổng của nhà nghỉ, chửi bới yêu cầu Nguyễn Văn T2 (chủ nhà nghỉ) gọi điện thoại cho chị T3, buộc chị T3 phải ra gặp H để giải quyết chiếc điện thoại do H đã cầm thế. Trước sự việc trên, T3 đã đến Công an phường M trình báo.

Sự việc chưa được giải quyết thì vào khoảng 18 giờ ngày 01/7/2024, H tiếp tục đi đến nhà nghỉ T tìm chị T3 để giải quyết việc cầm thế chiếc điện thoại Iphone 14 ProMax nhưng không thấy chị T3. H chửi bới, dùng chân đạp nhiều cái vào cánh cửa kéo bằng sắt (loại 02 cánh), dùng sơn nước màu vàng mang theo sẵn tạt vào vách nhà và dùng viên gạch bể, xà bần ở dưới đường ném cửa sổ bằng nhôm (loại 02 cánh) ở phòng lễ tân tầng trệt. H đi vào bên trong nhà nghỉ dùng chân đạp mạnh vào cánh cửa nhôm của phòng ngủ tầng trệt. Lúc này, Công an phường M đến yêu cầu H dừng lại và lên trụ sở làm việc.

Vật chứng của vụ án:

- Thu giữ từ bà Lương Bửu P:

+ 01 vỏ điện thoại di động mặt trước bằng kính màu đen, mặt sau màu tím bị nứt, không xác định chủng loại, bên trong không có pin và linh kiện điện tử, ốp lưng bằng nhựa màu đen.

+ 01 USB kí hiệu Color Turn, dung lượng 4GB, bên trong chứa 05 đoạn video liên quan đến vụ việc cố ý làm hư hỏng tài sản xảy ra tại nhà nghỉ T.

- Thu giữ từ Nguyễn Văn H: 02 mảnh vỡ của viên gạch (loại gạch thẻ) bị vỡ không rõ hình, chiều rộng nhất 8cm, chiều hẹp nhất 3cm; 01 cục xà bần bị vỡ không rõ hình, chiều rộng dài 7cm, chiều hẹp nhất 4cm.

Tại Kết luận định giá tài sản số 139 ngày 03/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự thành phố P, kết luận:

01 cửa cánh bằng sắt (02 cánh) có kích thước dài 4,86 mét, cao 3,7 mét, đã qua sử dụng; trong đó: giá trị thiệt hại 01 cánh có kích thước dài 2,43 mét, cao 3,76 mét; phần dưới của cánh cửa kéo bên phải này bị đẩy cong theo hướng từ ngoài vào trong (lệch 53cm so với vị trí ban đầu), trị giá là 7.087.500 đồng.

Giá trị thiệt hại 01 cánh cửa bằng nhôm có kích thước rộng 0,89 mét, cao 2,14 mét, đã qua sử dụng; bị đạp móp méo, trị giá là 1.139.670 đồng.

Cửa sổ bằng nhôm (02 cánh) kính có kích thước rộng 01 mét, cao 01 mét, đã qua sử dụng; trong đó giá trị thiệt hại 01 cánh bị bể kính với kích thước (41 x 12) cm, kính có độ dày 0,5 cm, trị giá là 67.500 đồng.

Tổng cộng là 8.294.670 đồng.

Xử lý vật chứng và dân sự:

01 USB kí hiệu Color Turn, dung lượng 4GB, bên trong chứa 05 đoạn video liên quan đến vụ việc cố ý làm hư hỏng tài sản xảy ra tại nhà nghỉ T, được lưu vào hồ sơ để xét xử.

Đối với các vật chứng 01 vỏ điện thoại di động mặt trước bằng kính màu đen, mặt sau màu tím bị nứt, không xác định chủng loại, bên trong không có pin và linh kiện điện tử, ốp lưng bằng nhựa màu đen; 02 mảnh vỡ của viên gạch (loại gạch thẻ) bị vỡ không rõ hình, chiều rộng nhất 08 cm, chiều hẹp nhất 03 cm và 01 cục xà bần bị vỡ không rõ hình, chiều rộng dài 07 cm, chiều hẹp nhất 04 cm; Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố P bảo quản, chờ xử lý.

Nguyễn Văn T2 yêu cầu Nguyễn Văn H bồi thường số tiền 8.294.670 đồng. Nguyễn Văn T4, sinh năm 1982 (là anh của H) đã bồi thường cho T2 số tiền 8.000.000 đồng, T2 đã nhận, không yêu cầu về dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 271/CT-VKSPT-HS ngày 19/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn H từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: trả lại cho bà Lương Bửu P 01 vỏ điện thoại di động mặt trước bằng kính màu đen, mặt sau màu tím bị nứt, không xác định chủng loại, bên trong không có pin và linh kiện điện tử, ốp lưng bằng nhựa màu đen; tịch thu và tiêu hủy 02 mảnh vỡ của viên gạch (loại gạch thẻ) bị vỡ không rõ hình, chiều rộng nhất 08 cm, chiều hẹp nhất 03 cm và 01 cục xà bần bị vỡ không rõ hình, chiều rộng dài 07 cm, chiều hẹp nhất 04 cm.

Bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản

cáo trạng; bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự bào chữa. Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo biết hành vi của mình là sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, theo hồ sơ đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng:

Trong vụ án này có người bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng vắng mặt. Bị cáo và Kiểm sát viên đều đề nghị xét xử vắng mặt người bị hại, người làm chứng. Xét thấy sự vắng mặt của người bị hại, người làm chứng không gây trở ngại đến việc xét xử giải quyết vụ án, mặt khác bị hại, người làm chứng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về căn cứ buộc tội đối với bị cáo:

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 01/7/2024 tại nhà nghỉ T thuộc khu phố 5, phường M, thành phố P do Nguyễn Văn T2 làm chủ. Bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi dùng gạch, xà bần, chân đập phá làm hư hỏng 01 cánh cửa bằng sắt có kích thước dài 2,43 mét, cao 3,76 mét, trị giá 7.087.500 đồng; 01 cánh cửa bằng nhôm có kích thước rộng 0,89 mét, cao 2,14 mét, trị giá 1.139.670 đồng và 01 cánh cửa sổ bằng nhôm bị bể kính với kích thước (41 x 12) cm, kính có độ dày 0,5cm, trị giá 67.500 đồng của nhà nghỉ. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 8.294.670 đồng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, Bản Cáo trạng số 271/CT-VKSPT-HS ngày 19/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Văn H có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích”, chưa được xóa án tích, tiếp tục phạm tội do cố ý thuộc trường hợp “tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, thể hiện thiếu ý thức chấp hành pháp luật, do đó Hội đồng xét xử thấy cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa thì mới có tác dụng phòng ngừa chung và cải tạo, răn đe giáo dục đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ: xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại nên được xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 vỏ điện thoại di động mặt trước bằng kính màu đen, mặt sau màu tím bị nứt, không xác định chủng loại, bên trong không có pin và linh kiện điện tử, ốp lưng bằng nhựa màu đen: xét thấy đây là vật chứng đã thu giữ từ bà Lương Bửu P, không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bà Lương Bửu P là phù hợp.

Đối với 02 mảnh vỡ của viên gạch (loại gạch thẻ) bị vỡ không rõ hình, chiều rộng nhất 08 cm, chiều hẹp nhất 03 cm và 01 cục xà bần bị vỡ không rõ hình, chiều rộng dài 07 cm, chiều hẹp nhất 04 cm là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần phải tịch thu và tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, bị hại Nguyễn Văn T2 yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn H bồi thường số tiền 8.294.670 đồng. Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1982 (là anh của bị cáo H) đã bồi thường cho T2 số tiền 8.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về vấn đề khác:

Hành vi Nguyễn Văn H dùng nhớt bẩn và sơn tạt vào cửa cổng, vách tường của nhà nghỉ T vào ngày 29/6/2024, Công an thành phố P đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với H là có căn cứ.

Đối với việc Nguyễn Văn H cầm thế chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax cho chị Võ Thị Anh T3 thông qua Lương Bửu P, lấy số tiền 3.000.000 đồng vào ngày 17/6/2024. Do khi nhận cầm thế chiếc điện thoại di động trên, giữa P và H không viết giấy nhận cầm thế; không có tài liệu chứng minh tại thời điểm cầm thế là chiếc điện thoại Iphone 14 ProMax thật hay là vỏ điện thoại nên không có căn cứ để xem xét xử lý hình sự là có cơ sở.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn H 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 06/7/2024.

2. Về xử lý vật chứng: căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu và tiêu hủy 02 mảnh vỡ của viên gạch (loại gạch thẻ) bị vỡ không rõ hình, chiều rộng nhất 08 cm, chiều hẹp nhất 03 cm và 01 cục xà bần bị vỡ không rõ hình, chiều rộng dài 07 cm, chiều hẹp nhất 04 cm.

- Trả lại cho bà Lương Bửu P 01 vỏ điện thoại di động mặt trước bằng kính màu đen, mặt sau màu tím bị nứt, không xác định chủng loại, bên trong không có pin và linh kiện điện tử, ốp lưng bằng nhựa màu đen.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 99 ngày 15/01/2025).

3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/01/2025); người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết bản án./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ