- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2025/HS-ST Ngày: 26/9/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG
Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Bá Luân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sỹ Thông và bà Hoàng Thị Thanh.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng.
Đại diện VKSND khu vực 8 – Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Lê Thu T - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 09 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 09 năm 2025 đối với bị cáo:
Phùng Văn H, sinh năm 1996 tại tỉnh Đắk Nông cũ (nay là tỉnh Lâm Đồng); nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng; CCCD: 067096003685, cấp ngày 12/08/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn C, sinh năm 1969 và bà Phương Thị C1, sinh năm 1971; tiền án: 02 tiền án, cụ thể: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 279/2018/HSST ngày 30/10/2018 của Toà án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (cũ) tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS. Tại bản án hình sự phúc thẩm số 14/2019/HSPT ngày 10/01/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS. Ngày 31/7/2019, chấp hành xong hình phạt, do bị cáo chưa đóng án phí nên chưa được xoá án tích. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HSST ngày 27/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông (cũ) tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Ngày 17/02/2024, chấp hành xong hình phạt (chưa được xoá án tích); tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 25/7/2025 sau đó chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam số 6 (T), thuộc trại tạm giam số 2, Công an tỉnh L (có mặt).
Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thu U, sinh năm 2000; Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng - vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Cao Huy T1, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn I, xã H, tỉnh Đắk Lắk - vắng mặt.
2. Anh Hoàng Văn P, sinh năm 2003; Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng - vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có thời gian làm thuê tại trại chăn nuôi của chị Nguyễn Thị Thu U nên vào khoảng 18 giờ ngày 22/7/2025, Phùng Văn H nảy sinh ý định đến trại chăn nuôi của chị U để trộm cắp tài sản. H điều khiển xe mô tô biển số 47B2-434.94 (xe của anh Cao Huy T1 cho anh Hoàng Văn P mượn làm phương tiện đi lại) đến thôn Đ, xã Đ. Đến khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày, khi đến khu vực trại chăn nuôi của chị U khoảng 100m, H cất giấu xe mô tô rồi đi bộ vào trong sân phía sau thì phát hiện 01 máy cưa lốc nhãn hiệu Kavi 851 qua sử dụng nên H lấy trộm rồi đi bộ ra ngoài cất giấu bên cạnh xe mô tô. Sau đó, H quay lại khu vực phòng bếp của chị U lấy 01 móc phơi đồ treo bên cạnh cửa rồi luồn qua khe cửa, kéo mở chốt cửa đi vào phía trong nhà thì phát hiện 01 bao xác rắn màu trắng bên trong chứa 16,2kg tiêu khô nên lấy trộm rồi đi bộ ra vị trí cất giấu xe mô tô. Sau đó, H đổ 16,2kg tiêu khô sang bao xác rắn màu xanh (lấy trong quá trình đi ra ngoài), bỏ máy cưa nhãn hiệu Kavi, đã qua sử dụng vào trong bao xác rắn màu trắng rồi bỏ tất cả lên xe mô tô biển số 47B2-434.94 điều khiển về khu vực thôn H, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng tìm nơi tiêu thụ thì bị lực lượng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L phát hiện và mời về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra, H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận định giá tài sản số 1443/KL-HĐĐGTS ngày 26/8/2025, của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND tỉnh L kết luận: 16,2kg tiêu khô có giá trị là 2.187.000 đồng và 01 máy cưa nhãn hiệu Kavi 851, đã qua sử dụng có giá trị là 2.733.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 4.920.000 đồng.
Bản Cáo trạng số: 24/CT-VKS ngày 15 tháng 9 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Phùng Văn Hùng về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng truy tố.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng sau khi phân tích tính chất vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phùng Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (viết tắt: BLHS) và đề nghị Hội đồng xét xử (Viết tắt: HĐXX):
Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của BLHS xử phạt bị cáo H từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/07/2025.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (viết tắt: BLTTHS): Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã trả lại 16,2kg tiêu khô; 01 máy cưa nhãn hiệu Kavi 851, đã qua sử dụng; 01 bao xác rắn màu xanh; 01 bao xác rắn màu trắng và xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen, biển số 47B2-434.94 cho các chủ sở hữu hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.
Đối với anh Cao Huy T1 và anh Hoàng Văn P do không biết bị cáo sử dụng xe mô tô biển số 47B2-434.94 vào việc phạm tội nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, bị cáo không bào chữa, không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên; lời khai của bị cáo; lời khai của người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc theo bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xác định: Vào khoảng 23 giờ 50 phút ngày 22/7/2025, tại thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng, Phùng Văn H đã lén lút trộm cắp của chị Nguyễn Thị Thu U 16,2kg tiêu khô có giá trị là 2.187.000 đồng và 01 máy cưa nhãn hiệu Kavi 851, đã qua sử dụng có giá trị là 2.733.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà Phùng Văn H trộm cắp là 4.920.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS.
Xét quan điểm buộc tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Phùng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS.
Điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
…
g) Tái phạm nguy hiểm;”
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức về hành vi trộm cắp tài sản của người khác là phạm pháp. Bị cáo đã có 02 tiền án cụ thể, 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, sửa chữa bản thân, lao động chân chính mà lại thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện bản chất coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó, HĐXX phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Do đó, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 của BLTTHS: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã trả lại 16,2kg tiêu khô; 01 máy cưa nhãn hiệu Kavi 851, đã qua sử dụng; 01 bao xác rắn màu xanh; 01 bao xác rắn màu trắng và xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen, biển số 47B2-434.94 cho các chủ sở hữu hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.
Về các vấn đề khác: Đối với anh Cao Huy T1 và anh Hoàng Văn P do không biết bị cáo sử dụng xe mô tô biển số 47B2-434.94 vào việc phạm tội nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy bị cáo không có tài sản nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp nên cần chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Phùng Văn H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
1. Xử phạt: Phùng Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/7/2025.
2. Về vật chứng vụ án: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã trả lại 16,2kg tiêu khô; 01 máy cưa nhãn hiệu Kavi 851, đã qua sử dụng; 01 bao xác rắn màu xanh; 01 bao xác rắn màu trắng và xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen, biển số 47B2-434.94 cho các chủ sở hữu hợp pháp. (Theo biên bản trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 09/09/2025 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L).
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Phùng Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - VKSND khu vực 8 – Lâm Đồng; - CQCSĐTCA tỉnh Lâm Đồng; - Cơ quan THAHS CA tỉnh Lâm Đồng; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Lâm Đồng; - THADS tỉnh Lâm Đồng - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Bá Luân |