vanban.org

Bản án 27/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 05 Năm) năm tù, thời hạn tù tính ngày 03/4/2025. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 273 và Điều 35 Bộ luật hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST
Ngày: 22/8/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Hà và bà Trần Thị Ngọc.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thành Trung - Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Đinh Huy Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần Văn Q, sinh năm 1991 tại Hà Nam; nơi cư trú: Tổ dân phố Q, phường T, thị xã K, tỉnh Hà Nam (nay là Tổ dân phố Q, phường N, tỉnh Ninh Bình); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: Chưa; tiền án: Ngày 20/4/2017, Tòa án nhân dân quận L, Thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 16/01/2018, Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hà Nam xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 09/03/2021, Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hưng Yên xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 01/12/2016, Công an thị trấn Đ, huyện D, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/4/2025 đến ngày 11/4/2025 chuyển tạm giam đến nay; có mặt.

- Bị hại:

+ Anh Nguyễn Hồng T1, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn C, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam (nay là phường T, tỉnh Ninh Bình); vắng mặt.

+ Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường D, thành phố Hà Nội); vắng mặt.

+ Anh Hoàng Đức T3, sinh năm 1996; nơi cư trú: Xóm H, xã T, huyện H, tỉnh Nghệ An (nay là xã T, tỉnh Nghệ An); vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hoá (nay là xã V, tỉnh Thanh Hoá); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên Trần Văn Q đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của người dân để đột nhập trộm cắp tài sản, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 01 giờ 00 ngày 30/3/2025, Trần Văn Q đi bộ một mình quanh khu vực phường Đ thì phát hiện thấy ô thoáng tầng hai phía sau phòng khám nha khoa thẩm mỹ thuộc tổ dân phố V, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam (nay là phường Đ, tỉnh Ninh Bình) của anh Nguyễn Hồng T1 làm chủ đang mở, Q đi men lối tường trường học trèo lên mái tôn phía sau tầng 2 rồi chui qua ô cửa thoáng làm bằng nhôm kính đột nhập vào trong phòng khám nha khoa thấy trên quầy lễ tân tầng 1 có 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell INC precision 3510 màu đen để trên mặt bàn, Q đi lên tầng 2 thì phát hiện trong phòng gần ban công phía trước để 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell INC Vostro 3578 màu đen, Q tiếp tục đi lên tầng 5 vào phòng ngủ gần cầu thang máy phát hiện 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell INC XPS 13 7390 2-in-1 màu trắng để trên giường. Q mở tủ quần áo lục lấy 01 chiếc balo giả da màu đen rồi lấy chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell INC XPS 13 7390 2-in-1 màu trắng trên giường cho vào balo. Q đi xuống tầng 1 và tầng 2 lấy 02 chiếc máy tính xách tay nhân hiệu Dell INC Vostro 3578 màu đen và Dell INC precision 3510 màu đen cho vào chiếc balo. Sau khi lấy được tài sản, Q đi xuống tầng trệt nơi để xe bấm nút mở cửa cuốn đi ra ngoài và bấm nút điều khiển đóng cửa cuốn. Q đi bộ ra phía đường quốc lộ 1A nằm ngủ tại gầm cầu vượt Đ. Đến khoảng 07 giờ sáng cùng ngày, Q bắt xe khách đi đến khu vực phường Mo, quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường H, thành phố Hà Nội), thì thấy cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại và máy tính Mobile, nên Q bán 03 chiếc máy tính mà trước đó đã trộm cắp được tại phòng khám nha khoa thẩm mỹ cho anh Nguyễn Văn N với giá 2.100.000đồng. Số tiền bán máy tính, Q đã tiêu sài hết.

Lần thứ hai: Khoảng 01 giờ ngày 02/4/2025, Trần Văn Q một mình mang theo 01 chiếc balo giả da màu đen đã trộm cắp được ở phòng khám nha khoa thẩm mỹ đi bộ đến quán cafe Hở số nhà 28, khu đô thị M, phường M, quận H, thành phố Hà Nội (Nay là phường H, thành phố Hà Nội) thì phát hiện quán café đang đóng cửa, tắt điện, cửa ra vào là cửa cuốn. Q trèo lên cây sấu phía trước rồi bám vào lan can tầng 2 quán cà phê thấy cửa nhôm kính không khoá nên dùng tay mở cửa nhôm kính rồi đột nhập vào bên trong văn phòng công ty Cổ phần tư vấn và phát triển. Tại đây, Q trộm cắp 01 máy tính nhãn hiệu Dell INC Inspiron 3542, 01 sạc máy tính, chuột dây máy tính của chị Nguyễn Thị T2 và 01 máy tính nhãn hiệu Dell Inspiron 5567, 01 sạc máy tính, chuột dây máy tính của anh Hoàng Đức T3 cho vào ba lô mang theo; chị T2 và anh T2 là nhân viên của công ty cổ phần tư vấn và phát triển T. Sau khi lấy được tài sản, Q đi xuống tầng 1 và bấm nút mở cửa cuốn bên trong rồi nhanh chóng đi ra khỏi quán. Đến khoảng 08 giờ sáng ngày 03/4/2025, khi Q đang đi bộ tại địa bàn phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam để tìm nơi tiêu thụ hai chiếc máy tính trên thì bị lực lượng Công an kiểm tra, triệu tập đưa về trụ sở để làm việc.

Khi bắt, công an thu giữ: 01 chiếc balo giả da màu đen đã cũ; 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell INC Inspiron 3542, màu đen đã qua sử dụng; 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 5567, màu đen đã qua sử dụng; 02 chiếc sạc pin máy tính, 02 con chuột máy tính.

Anh Nguyễn Văn N giao nộp: 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell INC precision 3510; 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell INC Vostro 3578 và 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell INC XPS 13 7390 2- in-1.

Tiến hành khám xét nơi ở của Trần Văn Q, Cơ quan điều tra không thu giữ tài liệu, đồ vật gì liên quan đến vụ án.

Quá trình khám nghiệm hiện trường tại phòng khám nha khoa thẩm mỹ thuộc tổ dân phố V, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam ngày 30/3/2025, Cơ quan điều tra đã thu giữ dấu vết đường vân.

Tại bản kết luận giám định số 224/KL-KTHS ngày 18/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Hình ảnh dấu vân tay trong mẫu cần giám định được thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường với dấu vân tay in trong ở giữa trái trên mẫu so sánh là của cùng một người.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số ngày 17/KL-HĐ ngày 08/4/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã D, tỉnh Hà Nam kết luận:

"- 01 chiếc balo giả da màu đen đã cũ kích thước (50 x 30)cm, trên bề mặt balo có dòng chữ MARK RYDEN tại thời điểm ngày 30/3/2025 có giá 150.000đồng.

- 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell INC precision 3510 màu đen đã qua sử dụng có cấu hình: Core (TM) i7-6820HQ CPU @ 2.70GHz (8CPUs)2.7GHz, Memori: 8192MB RAM tại thời điểm ngày 30/3/2025 có giá 4.500.000đồng.

- 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell INC Vostro 3578 màu đen đã qua sử dụng có cấu hình: Core (TM) i7 - 8550U CPU @ 1.8 GHz (8CPUs)2.0GHz, Memori: 8192MB RAM tại thời điểm ngày 30/3/2025 có giá 5.000.000đồng.

- 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell INC XPS 13 7390 2-in-1 màu trắng 1065G7 CPU@ 1.30GHz đã qua sử dụng có cấu hình: Core (TM) i7 - (8CPUs) 21.5GHz, Memori: 32768MB RAM tại thời điểm ngày 30/3/2025 có giá 8.000.000đồng”.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐ ngày 06/6/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã D, tỉnh Hà Nam kết luận:

- 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell INC Inspiron 3542, màu đen đã qua sử dụng có cấu hình: Inter(R) core(TM) i3-4005U CPU @ 1.70GHz (4CPUs), - 1.7GHz, Memory: 8192MB RAM tại thời điểm ngày 02/4/2025 có giá là 2 2.500.000đồng.

- 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 5567, màu đen đã qua sử dụng có cấu hình i5-7200U/8GB/240/15.6 tại thời điểm ngày 02/4/2025 có giá là 3.500.000đồng.

- 02 chiếc sạc pin máy tính màu đen đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 02/4/2025 có giá là 300.000đồng.

- 02 con chuột máy tính màu đen loại có dây đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 02/4/2025 có giá là 200.000đồng”.

Về xử lý vật chứng, tài sản, đồ vật đã thu giữ:

- Đối với 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell INC precision 3510; 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell INC Vostro 3578 và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell INC XPS 13 7390 2-in-1 và 01 ba lô giả da là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Hồng Thuỷ. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Hà Nam (Nay là Công an tỉnh Ninh Bình) đã trả lại cho anh Nguyễn Hồng T1.

- Đối với 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell INC Inspiron 3542, cùng chuột máy tính và chiếc sạc pin của máy tính là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị T2. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Hà Nam đã trả lại cho chị Nguyễn Thị T2.

- Đối với 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 5567 cùng chuột máy tính và chiếc sạc pin của máy tính là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Đức T3. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Hà Nam đã trả lại anh Hoàng Đức T3.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Hồng T1, chị Nguyễn Thị T2 và anh Hoàng Đức T3 đã nhận lại tài sản của mình, không có yêu cầu đề nghị gì. Anh Nguyễn Văn N là người đã mua 03 chiếc máy tính xách tay của Q với giá 2.100.000 đồng, anh N không yêu cầu Q phải trả lại cho anh số tiền này.

Quá trình điều tra, Trần Văn Q đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện.

Tại bản cáo trạng số 04/CT - VKS - KV6 ngày 09/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình, truy tố Trần Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Q từ 04 năm đến 05 năm tù; phạt bổ sung đối với bị cáo từ 2.000.000đồng đến 5.000.000đồng sung nộp ngân sách Nhà nước; đồng thời đề nghị áp dụng án phí theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.

- Bị cáo Trần Văn Q khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình đã truy tố; không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, khách quan.

Đối với người tham gia tố tụng là bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai, ý kiến của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai ghi ý kiến theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

Về tội danh:

Lời khai của bị cáo Trần Văn Q tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với vật chứng thu được cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó đủ cơ sở kết luận: Với mục đích trộm cắp tài sản để có tiền tiêu sài, khoảng 01 giờ 00 phút ngày 30/3/2025, tại phòng khám nha khoa thẩm mỹ thuộc tổ dân phố V, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam (nay là phường Đ, tỉnh Ninh Bình), lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, Trần Văn Q đã lén lút trộm cắp 03 chiếc máy tính xách tay (01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell INC precision 3510; 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell INC Vostro 3578 và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell INC XPS 13 7390 2-in-1) và 01 ba lô giả da của anh Nguyễn Hồng T1. Giá trị tài sản Q trộm cắp của anh T1 là 17.650.000đồng.

Khoảng 01 giờ ngày 02/4/2025 tại văn phòng công ty Cổ phần tư vấn và phát triển ở số nhà 28, khu đô thị M, phường M, quận H, thành phố Hà Nội (Nay là phường H, thành phố Hà Nội), lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, Trần Văn Q đã lén lút trộm cắp 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell INC Inspiron 3542, cùng chuột máy tính, sạc pin máy tính của chị Nguyễn Thị T1 và 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 5567 cùng chuột máy tính, sạc pin máy tính của của anh Hoàng Đức T2 có giá trị tài sản là 6.500.000đồng.

Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 24.150.000 (Hai mươi tư triệu một trăm năm mươi nghìn) đồng.

Bị cáo đã “Tái phạm nguy hiểm” chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”.

Hành vi nêu trên của Trần Văn Q đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình truy tố bị cáo là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân rất xấu, đã 03 lần bị kết án và xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” đều chưa được xóa án tích, 01 lần bị xử phạt hành chính về hành “Trộm cắp tài sản”.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 30/3/2025 và ngày 02/4/2025 đều đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân - Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

- Về hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an trên nhiều địa bàn, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong nhân dân đối với việc quản lý tài sản. Bị cáo có nhân thân rất xấu, 03 lần bị Tòa án xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 01 lần bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản điều đó chứng tỏ bị cáo rất coi thường pháp luật, không có ý thức tự cải tạo, tu dưỡng bản thân. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đáp ứng được yêu cầu phòng ngừa tội phạm chung trong cộng đồng hiện nay. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo yên tâm chấp hành án, sớm hoà nhập cộng đồng, gia đình, xã hội cũng thấy được tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.

- Về hình phạt bổ sung: Để đảm bảo răn đe đối với bị cáo nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 35 và khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường; người có quyền lợi, nghĩa vụ quan không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền đã bỏ ra mua máy tính do bị cáo trộm cắp mà có nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo.

Về các vấn đề khác: Anh Nguyễn Văn N là người mua 03 chiếc máy tính của bị cáo Q nhưng anh N không biết đây là tài sản do Q trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý đối với anh Nhiên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 05 Năm) năm tù, thời hạn tù tính ngày 03/4/2025.

2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 273 và Điều 35 Bộ luật hình sự.

Phạt tiền: Bị cáo Trần Văn Q 5.000.000 (Năm triệu) đồng nộp ngân sách Nhà nước.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Trần Văn Q phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ