- Tranh chấp gì? án hình sự — "tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (đ…"
- Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đồng Văn T, Lành Văn Th phạm tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2025/HS-ST Ngày: 24-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thảo Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Xuân Tuấn
2. Ông Vi Lê Văn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Đàm Thành - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lành Đức Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Đồng Văn T (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 13 tháng 3 năm 1995 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn NT, xã T, huyện VL, tỉnh Lạng Sơn (nay là thôn NT, xã HVT, tỉnh Lạng Sơn); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đồng Văn Kh, sinh năm 1970 và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1970; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 16/12/2012, Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 375.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích tại Quyết định số 73/QĐ-XPHC, đã thi hành xong; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2025 đến nay. Có mặt.
2. Lành Văn Th (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 17 tháng 5 năm 1997 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn S, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn (nay là Thôn SH, xã TĐ, tỉnh Lạng Sơn); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lành Văn L1, sinh năm 1971 và bà Vi Thị C1, sinh năm 1971; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2025 đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1970. Địa chỉ: thôn NT, xã T, huyện VL, tỉnh Lạng Sơn (nay là thôn NT, xã HVT, tỉnh Lạng Sơn). Có mặt.
2. Chị Tô Thị L2, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Thôn SH, xã TĐ, tỉnh Lạng Sơn (trước là Thôn SH, xã T, huyện CL, tỉnh Lạng Sơn). Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 40 phút này 14/5/2025, Tổ công tác phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại đường Km 45, quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn Mạn Đường, xã Mai Sao, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn (nay là xã Nhân Lý, tỉnh Lạng Sơn phát hiện, bắt quả tang Lành Văn Th đang d ng xe ô tô biển kiểm soát 12H-017.69 chở 02 người có quốc tịch Trung Quốc không có giấy tờ nhập cảnh gồm: Lưu Kiến Tr, sinh năm 1989; Dương Tú C2, sinh năm 1990.
Quá trình điều tra làm rõ: Năm 2017, Lành Văn Th tham gia nghĩa vụ quân sự đóng quân tại Đồn Biên phòng Bảo Lâm, xã Bảo Lâm, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (nay là xã Đồng Đăng, tỉnh Lạng Sơn , thời gian này thông qua Hoàng Văn Th1, Thuận quen biết với Đồng Văn T. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, năm 2021 Thuận lái xe taxi hợp đồng cho công ty TNHH Mai Linh Lạng Sơn, Chi nhánh Hợp tác xã Hoà Bình Xanh tại Lạng Sơn.
Khoảng 21 giờ ngày 13/5/2025, Đồng Văn Tường nhận được điện thoại qua ứng dụng alo của một người đàn ông (không xác định được nhân thân thuê Tường chở 02 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép từ khu vực bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn đưa về khu vực c u Thanh Trì, thành phố Hà Nội, tiền công là 4.000.000 đồng, tiền công s được trả trực tiếp khi giao khách, Tường đồng ý. Tuy nhiên, do không trực tiếp chở được nên Tường đã gọi alo thuê Thuận chở, tiền công là 3.000.000 đồng, tiền công s được trả trực tiếp từ người nhận khách tại thành phố Hà Nội, Thuận đồng ý. Tường hẹn Thuận khoảng 00 giờ đến 01 giờ ngày 14/5/2025 thì đi đến khu vực đằng sau bến xe phía bắc thành phố Lạng Sơn (cách bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn khoảng 500m chờ đón khách.
Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 14/5/2025 Thuận điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 12H-017.69 đến điểm hẹn, đồng thời Tường cũng đi xe máy nhãn hiệu Honda Air Blade biển kiểm soát 12K-1968 đến chờ đón khách, chờ được khoảng 40 phút thì có 02 người đàn ông đi 02 xe mô tô (không xác định được nhân thân, biển số xe , mỗi xe chở 01 người Trung Quốc đến giao cho Thuận. Sau khi đã đón được 02 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép lên xe thì Thuận lái xe đi về hướng thành phố Hà Nội, khi xe đi được khoảng 05 phút thì Tường gọi Zalo bảo Thuận chụp ảnh 02 người Trung Quốc gửi cho Tường và đưa khách Trung Quốc xuống g n đến thành phố Hà Nội thì báo lại cho Tường biết để Tường gửi số điện thoại của người nhận khách, đồng thời lấy tiền công từ người nhận khách là 4.000.000 đồng. Khi Thuận lái xe đến địa phận thôn Mạn Đường, xã Mai Sao, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Ngày 12/6/2025 Tường đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn để đ u thú.
Tại bản Cáo trạng số 104/CT-VKSLS-P2 ngày 04/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Đồng Văn T, Lành Văn Th về tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Hoàng Thị L trình bày: bà là mẹ bị cáo Đồng Văn T, Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Air Blade màu đỏ, bạc, đen cũ, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 12K8 – 1968 là xe hiện do bà quản lý sử dụng, xe đứng tên chồng bà hiện đang chấp hành án tại trại giam. Khi bị cáo lấy xe bà không được biết nên đề nghị trả lại.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Tô Thị L2 trình bày: chị là vợ bị cáo Lành Văn Th, 01 xe ô tô biển kiểm soát 12H-017-69 nhãn hiệu Huyndai, màu sơn trắng, số loại Accent là tài sản chung của hai vợ chồng mua từ tháng 6 năm 2024. Bình thường bị cáo d ng xe để chạy taxi, khi bị cáo d ng xe chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, chị không được biết nên đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị tuyên bố bị cáo Đồng Văn T và Lành Văn Th phạm tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép.
Áp dụng khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 50, Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo: Đồng Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng t , cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách; bị cáo Lành Văn Th từ 01 năm 06 tháng t đến 02 năm t cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách.
- Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo (do bị cáo ko có tài sản riêng, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không có khả năng thi hành .
- Án phí: Buộc mỗi bị cáo chịu 200.000đ án phí sơ thẩm
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno4, màu đen cũ, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim viettel của bị cáo Đồng Văn T, 01 xe ô tô biển kiểm soát 12H-017-69 nhãn hiệu Huyndai, màu sơn trắng, loại xe ô tô con, số loại Accent, xe đã qua sử dụng c ng các giấy tờ kèm theo và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro max, màu tím, máy cũ đã qua sử dụng, bên trong có lắp 01 sim viettel của bị cáo Lành Văn Th; trả lại cho bà Hoàng Thị L: 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Air Blade màu đỏ, bạc, đen cũ, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 12K8 – 1968; 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 007598 mang tên Đồng Văn Kh, biển số xe máy đăng ký 12K8-1968 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 26/01/2010; trả lại cho bị cáo Lành Văn Th: 01 căn cước công dân số 020097004146, mang tên Lành Văn Th do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Bộ Công an cấp ngày 12/7/2021; 01 giấy phép lái xe hạng C số 240184033201 mang tên Lành Văn Th do Sở giao thông vận tải tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 22/11/2023.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến đối đáp, tranh luận. Lời nói sau c ng, các bị cáo Đồng Văn T, Lành Văn Th trình bày đã ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có khiếu nại gì đối với quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Đồng Văn T, Lành Văn Th đã thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ph hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, ph hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vì mục đích vụ lợi, sau khi bị cáo Đồng Văn T được một người đàn ông điện thoại alo đặt vấn đề thuê đón 02 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam từ khu vực bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn – bến xe phía Bắc đưa về khu vực c u Thanh Trì, thành phố Hà Nội để nhận tiền công là 4.000.000 đồng. Bị cáo Đồng Văn T không từ chối mà vẫn đồng ý thực hiện và thuê bị cáo Lành Văn Th chở khách. Khi Lành Văn Thuận điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 12H-017.69 chở 02 người đàn ông đều có quốc tịch Trung Quốc đi đến Km 45, quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn Mạn Đường, xã Mai Sao, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn (nay là xã Nhân Lý, tỉnh Lạng Sơn thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy rằng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, gây ảnh hưởng xấu đến việc giữ gìn an ninh tại khu vực biên giới, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Việc tự ý đón người Trung Quốc vào Việt Nam, không có sự kiểm soát của các cơ quan chức năng dẫn đến tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các loại tội phạm khác, cũng như làm phát sinh nhiều vấn đề phức tạp về chính trị, an ninh trật tự. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích vụ lợi nên vẫn cố ý thực hiện, lỗi của các bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận các bị cáo phạm tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép theo khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng pháp luật.
Các bị cáo c ng nhau thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có sự cấu kết chặt ch với nhau, không có bàn bạc, phân công vai trò nhiệm vụ cụ thể nên đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo Đồng Văn T là người liên hệ, thỏa thuận giá với một người đàn ông qua mạng xã hội alo sau khi được người này đặt vấn đề thuê chở người Trung Quốc vào Việt Nam và thuê bị cáo Lành Văn Th lái xe chở người. Bị cáo Lành Văn Th biết bị cáo Đồng Văn T thuê chở 02 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam nhưng vẫn đồng ý nhận và trực tiếp dùng xe ô tô thuộc sở hữu của mình để chở 02 người Trung Quốc vào Việt Nam nên xác định bị cáo Đồng Văn T có vai trò cao hơn.
Để quyết định hình phạt, ngoài việc xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, c n phải xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.
Về nhân thân: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo Đồng Văn T tuy đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích nhưng đã chấp hành xong mà không tái phạm nên được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Quá trình sinh sống, bị cáo Lành Văn Th đã tích cực đóng góp, ủng hộ đ y đủ các loại quỹ, các phong trào do địa phương phát động, nhiều năm liên tục đạt danh hiệu Gia đình văn hóa được Ủy ban nhân dân xã Tân Thành, huyện Cao Lộc (cũ tỉnh Lạng Sơn xác nhận, có ông nội là Lành Văn Hai được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì; bị cáo Đồng Văn T đ u thú nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sư.
Về hình phạt chính: Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên không c n thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho hưởng án treo cũng đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, lại đang phải nuôi con nhỏ nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno4 Pro, màu đen cũ, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim Viettel của bị cáo Đồng Văn T và 01 xe ô tô biển kiểm soát 12H-017-69 nhãn hiệu Huyndai, màu sơn trắng, loại xe ô tô con, số loại Accent, xe đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro max, màu tím, máy cũ đã qua sử dụng, bên trong có lắp 01 sim Viettel đều của bị cáo Lành Văn Th; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 12000438 mang tên Lành Văn Th, biển số đăng ký 12H-017.69 do Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 05/7/2024; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số EB0800938 do Trung tâm kiểm định kỹ thuật phương tiện, thiết bị giao thông cơ giới Bắc Giang cấp ngày 12/7/2024 là công cụ phương tiện d ng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Air Blade màu đỏ, bạc, đen cũ, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 12K8 – 1968; 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 007598 mang tên Đồng Văn Kh, biển số xe máy đăng ký 12K8-1968 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 26/01/2010, xe hiện do bà Hoàng Thị L quản lý, sử dụng khi bị cáo lấy xe bà không biết nên c n trả lại cho bà Hoàng Thị L. Đối với 01 căn cước công dân số 020097004146, mang tên Lành Văn Th do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Bộ Công an cấp ngày 12/7/2021; 01 giấy phép lái xe hạng C số 240184033201 mang tên Lành Văn Th do Sở giao thông vận tải tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 22/11/2023 không liên quan đến hành vi phạm tội nên c n trả lại.
Đối với người đàn ông gọi điện alo đặt vấn đề thuê Tường đón khách; 02 người giao khách; người đón khách tại thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra đã điều tra xác minh, nhưng không làm rõ được, nên không đề nghị xem xét.
Đối với Hoàng Văn Th1: Quá trình điều tra xác định Thuận quen Tường qua Thương, tuy nhiên Thương không liên quan đến hành vi phạm tội của Tường và Thuận, nên không xem xét.
Đối với Lưu Kiến Tr, Dương Tú C2 nhập cảnh trái phép vào Việt Nam để sang Campuchia làm việc. Ngày 14/5/2025, Công an tỉnh Lạng Sơn đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính; ngày 05/6/2025, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Lạng Sơn bàn giao Lưu Kiến Tr và Dương Tú C2 cho Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn để tiến hành trao trả cho cơ quan chức năng Trung Quốc theo quy định.
Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, ph hợp với các nhận định nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50, Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đồng Văn T, Lành Văn Th.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 4 Điều 328, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
1. Tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đồng Văn T, Lành Văn Th phạm tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Đồng Văn T 02 (hai năm t cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/9/2025).
- Xử phạt bị cáo Lành Văn Th 01 (một năm 06 (sáu) tháng t cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/9/2025).
Trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Đồng Văn T, bị cáo Lành Văn Th, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Đồng Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Hoàng Văn Thụ, tỉnh Lạng Sơn và bị cáo Lành Văn Th cho Ủy ban nhân dân xã Tân Đoàn, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 l n trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt t của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen cũ, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim Viettel của bị cáo Đồng Văn T; 01 xe ô tô biển kiểm soát 12H-017-69 nhãn hiệu Huyndai, màu sơn trắng, loại xe ô tô con, số loại Accent, xe đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím, máy cũ đã qua sử dụng, bên trong có lắp 01 sim Viettel của bị cáo Lành Văn Th; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 12000438 mang tên Lành Văn Th, biển số đăng ký 12H-017.69 do Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 05/7/2024; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số EB0800938 do Trung tâm kiểm định kỹ thuật phương tiện, thiết bị giao thông cơ giới Bắc Giang cấp ngày 12/7/2024.
- Trả lại cho bà Hoàng Thị L: 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Air Blade màu đỏ, bạc, đen cũ, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 12K8 – 1968; 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 007598 mang tên Đồng Văn Kh, biển số xe máy đăng ký 12K8-1968 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 26/01/2010.
- Trả lại cho bị cáo Lành Văn Th: 01 căn cước công dân số 020097004146, mang tên Lành Văn Th do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Bộ Công an cấp ngày 12/7/2021; 01 giấy phép lái xe hạng C số 240184033201 mang tên Lành Văn Th do Sở giao thông vận tải tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 22/11/2023.
(Vật chứng hiện Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4, tỉnh Lạng Sơn đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10 tháng 9 năm 2025).
4. Về án phí: Bị cáo Đồng Văn T, bị cáo Lành Văn Th mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Công an tỉnh Lạng Sơn; - VKSND khu vực 4 - Lạng Sơn; - THADS tỉnh Lạng Sơn; - Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thảo Nguyên |