vanban.org

Bản án 27/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: các bị cáo Phạm M Đ, Lý T M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo Phạm M Đ 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị tạm giữ 10/4/2025. Xử phạt bị cáo Lý T M 07 (bảy) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị tạm giữ 10/4/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm M Đ và Lý T M - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 197 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: các bị cáo Phạm M Đ, Lý T M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC A - QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST
Ngày: 23 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A - QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lưu Minh Đoàn.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Bùi Thị Kim Loan và bà Mai Tường Vi.

- Thư ký phiên tòa: bà Tăng Thị Thủy là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực A - Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực A - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực A - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm M Đ, sinh ngày 11/7/1998, tại tỉnh H; nơi thường trú: thôn A, xã Đ, tỉnh H; chỗ ở: tổ 5, khu 1, phường Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đ M và bà Vũ Th D; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa có; bị bắt tạm giữ ngày 10/4/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

2. Họ và tên: Lý T M, sinh ngày 28/12/1991, tại tỉnh T; nơi thường trú: đội 2, thôn V, xã H, tỉnh T; chỗ ở: tổ 5, khu 1, phường Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Dao; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý T N và bà Trưởng T V; có chồng là Nguyễn V H và có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: chưa có; bị bắt tạm giữ ngày 10/4/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Những người làm chứng: ông Phạm T K, chị Trương T L; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 09 giờ 20 phút ngày 10/4/2025, Công an phường Q và Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Quảng Ninh kiểm tra hành chính tại số nhà 7 thuộc tổ 5, khu 1, phường Q phát hiện Phạm M Đ và Lý T M có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Thu giữ trong tủ quần áo của M tại phòng ngủ: 01 chai nhựa có nắp đục 02 lỗ được gắn ống hút nhựa màu trắng và ống thủy tinh uốn cong có bầu tròn (nỏ), bên trong ống thủy tinh có bám dính ma túy Methamphetaminne dạng vết (không xác định được khối lượng); 01 bật lửa gas; 01 túi nilon bên trong dính ma túy Methamphetamine dạng vết (không xác định được khối lượng), Đ và M đã giao nộp 02 điện thoại iPhone có gắn sim.

Quá trình điều tra xác định: ngày 11/8/2024, M ký hợp đồng thuê nhà trọ của Trương T L thuộc tổ 5, khu 1, phường Q để ở cùng một số nhân viên nữ phục vụ quán hát, tiền thuê nhà do M trả cho chị L. Đức đến ở cùng M trong 01 phòng riêng, còn nhân viên ở các phòng khác, để Đ giúp M kinh doanh.

Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 10/4/2025, Đ ở trong phòng, còn M đang ngủ trên giường. Đ lấy bộ đồ sử dụng ma túy (của Đ để trong phòng từ trước), đổ ma túy Đ mới mua vào nỏ, rồi Đ gọi M dậy, M thấy Đ đang ngồi trên giường chuẩn bị sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng M không ngăn cản mà đồng ý để Đ sử dụng ma túy trong phòng, Đ mời M cùng sử dụng ma túy, lúc đầu M từ chối nên Đ tự sử dụng một mình. Sau đó, Đ lại mời thì Minh đồng ý. Đ cầm bộ đồ, châm lửa tạo khói cho M sử dụng, rồi Đ tiếp tục sử dụng ma túy. Sử dụng ma tuý xong, Đ cất bộ đồ trong ngăn kéo tủ quần áo ở trong phòng, rồi cả hai đi ngủ, đến sáng thì bị cơ quan Công an kiểm tra phát hiện, thu giữ vật chứng.

Ngoài lần trên, trước đó ngày 15/3/2025 tại phòng ngủ của M, Đ và M đã tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ngủ của M. Ma túy và bộ đồ sử dụng do Đ chuẩn bị từ trước. Khi M nhìn thấy Đ sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng thì không ngăn cản mà đồng ý để cho Đ sử dụng. Đ mời M sử dụng ma túy thì M đồng ý. Đ châm lửa tạo khói để M sử dụng. Sau khi sử dụng xong, Đ cất bộ đồ sử dụng ma túy lên nóc tủ quần áo trong phòng ngủ của M (là bộ đồ sử dụng ma túy ngày 10/4/2025 bị thu giữ).

Tại bản kết luận giám định các số 389/KL-KTHS, 390/KL-KTHS ngày 15/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: chất màu trắng dạng vết dính trong túi nilon, chất màu nâu dạng vết dính trong 01 ống thủy tinh một đầu uốn cong có bầu tròn gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Trong mẫu nước tiểu thu của Phạm M Đ, Lý T M có ma túy, loại Methamphetamine.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện, thừa nhận Bản cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng với hành vi của các bị cáo đã thực hiện.

Ngoài ra, bị cáo Phạm M Đ còn khai nguồn gốc ma túy sử dụng 02 lần đều mua của người không quen biết tại khu vực cầu vượt C L với giá 1.000.000 đồng/lần và đã sử dụng hết. Bị cáo M còn khai cả 02 lần Đ tổ chức sử dụng ma túy tại phòng ngủ của M thì M đều đồng ý. Các bị cáo thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật và không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người làm chứng chị Trương T L có lời khai thể hiện chị cho M thuê nhà từ ngày 11/8/2024, chị không biết việc M thuê nhà để dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Người làm chứng ông Phạm T K có lời khai thể hiện khoảng 09 giờ 20 phút ngày 10/4/2025, tại phòng ngủ phía bên phải tầng hai ngôi nhà số nhà 7, đường Đ, thuộc tổ 5, khu 1, phường Q, ông thấy có 02 người gồm 1 nam, 1 nữ tên là Phạm M Đ, Lý T M khai nhận tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra, cơ quan công an thu giữ 01 bộ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa có nắp chai màu xanh đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn ống thủy tinh, bên trong ống thủy tinh có bám dính chất màu nâu dạng vết nghi là ma túy.

Cáo trạng số 3290/VKS-KV3 ngày 26/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực A - Quảng Ninh truy tố các bị cáo Phạm M Đ, Lý T M về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, theo điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt: Phạm M Đ từ 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng đến 07 (Bảy) năm 09 (chín) tháng tù, về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý". Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 10/4/2025.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt: Lý T M từ 07 (Bảy) năm đến 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý". Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 10/4/2025.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: áp dụng căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại iPhone, màu vàng hồng.

Tịch thu, tiêu hủy 01 sim điện thoại số 0899.540.309; 01 bật lửa ga màu trằng; 01 chai nhựa nắp màu xanh, đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng và 01 phong bì niêm phong số 389/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh.

Trả lại bị cáo Lý T M 01 điện thoại di động iPhone, màu vàng, gắn sim số 0689.556.709.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo, người làm chứng trong quá trình điều tra; phù hợp với kết luận giám định, biên bản kiểm tra và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ cơ sở kết luận: ngày 15/3/2025 và ngày 10/4/2025, tại tổ 5, khu 1, phường Q, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Phạm M Đ có hành vi chuẩn bị ma túy Methamphetamine, dụng cụ sử dụng ma túy; bị cáo Lý T M có hành vi cung cấp địa điểm để Đ và M 02 lần tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an phát hiện bắt giữ.

Hành vi của các bị cáo Phạm M Đ và Lý T M đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên”.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý các chất ma tuý, không chỉ gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma tuý của Nhà nước mà còn góp phần tạo ra một lớp người nghiện, qua đó đe doạ nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khoẻ và sự phát triển lành mạnh của nòi giống cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo đã thành niên, hiểu rõ tác hại của chất ma túy, nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội, do vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của mình gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích răn đe riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt thể hiện không có tiền án, tiền sự. Do vậy, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét về tính chất, vai trò của các bị cáo: đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo hành động không có sự bàn bạc, trao đổi cụ thể. Việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý do bị cáo Phạm M Đ khởi xướng, chuẩn bị ma túy, công cụ, trực tiếp châm lửa hút, nên bị cáo Đức có vai trò chính trong vụ án; bị cáo Lý T M là đồng phạm với vai trò cung cấp địa điểm và cùng thực hiện tội phạm.

Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Đ có vai trò đầu vụ, bị cáo Minh có vai trò sau bị cáo Đ, nên Đ phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo M. Bị cáo M là nữ giới người dân tộc thiểu số có sự hiểu biết còn hạn chế, nên cho bị cáo M được hưởng hình phạt ở mức khởi điểm của khung hình phạt, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Viện kiểm sát truy tố các bị cáo theo điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- 01 bật lửa ga màu trằng; 01 chai nhựa nắp màu xanh, đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng là công cụ dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại iPhone, màu vàng hồng là phương tiện bị cáo Đ dùng vào việc phạm tội, nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Đối tượng sau giám định được hoàn lại trong phong bì niêm phong số 389/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh là vật cấm tàng trữ, cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 sim điện thoại số 0899.540.309, không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu và tiêu hủy.

- 01 điện thoại iPhone, màu vàng, gắn sim số 0689.556.709, bị cáo M không dùng vào việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo M.

Trong vụ án này có chị Trương T L cho Lý T M thuê nhà nhưng không biết việc M dùng nơi ở để sử dụng trái phép chất ma túy, nên không đề cập xử lý là có căn cứ. Người bán ma tuý cho Phạm M Đ, do không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có cơ sở xử lý.

Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: các bị cáo Phạm M Đ, Lý T M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Phạm M Đ 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị tạm giữ 10/4/2025.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Lý T M 07 (bảy) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị tạm giữ 10/4/2025.

- Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại iPhone, màu vàng hồng.

Tịch thu, tiêu hủy 01 sim điện thoại số 0899.540.309 (trên sim có 4 dãy số: 8401, 2403, 1302, 2553); 01 bật lửa ga màu trằng; 01 chai nhựa nắp màu xanh, đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng và 01 phong bì niêm phong số 389/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh.

Trả lại bị cáo Lý T M 01 điện thoại di động iPhone, màu vàng, gắn sim số 0689.556.709 (trên sim có 4 dãy số: 8984, 04800, 03033, 55315).

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 26/BB-THA.KV3 ngày 05/9/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh và Phòng Thi hành án dân sự khu vực A - Quảng Ninh).

- Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hộ quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng áp phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Phạm M Đ, Lý T M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 23/9/2025.

Cỡ chữ