vanban.org

Bản án 27/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Huế, TP. Huế Tuyên án 10/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn B 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 09/10/2024). Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn B bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN PHÚ XUÂN
THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST
Ngày: 10/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ XUÂN, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền.

Các Hội thẩm Nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Đang

2. Bà Trần Thị Thanh Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân quận phú Xuân, thành phố Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân quận Phú Xuân tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cảm - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Phú Xuân, thành phố Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/HSST ngày 14 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với:

- Bị cáo: Trần Văn B (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 12/6/1994 tại thành phố Huế. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ 7, khu vực 3, phường An H, quận Phú X, thành phố Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; căn cước công dân số 046094015905. Con ông Trần Văn Ph, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1971.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ ngày 09/10/2024, chuyển tạm giam từ ngày 15/10/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an thành phố Huế. Bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Lê Thanh L, sinh năm 1990; địa chỉ: Lô C22 KQH GĐ1, phường Hương L, quận Phú X, thành phố Huế, vắng mặt.

+ Anh Trần Văn Anh T, sinh năm 1998; địa chỉ: Tổ 7, khu vực 3, phường An H, quận Phú X, thành phố Huế, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 40 ngày 08/10/2024, bị cáo Trần Văn B gọi đến số điện thoại 0776663232 của một người tên Sanh, nhà ở cạnh nhà số 75 đường Tản Đà, phường Hương S, quận Phú X, thành phố Huế để hỏi mua ma túy nhằm mục đích sử dụng thì Sanh đồng ý và hẹn đến nhà Sanh để giao ma tuý. Sau đó, B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 75B1 -103.34 (xe của Trần Văn Anh Tuấn cho mượn) đến gặp Sanh để mua 400.000 đồng ma túy thì được S bán cho 02 túi ni long màu trắng bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng. B cất số ma túy này vào túi quần bên phải rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi B đang điều khiển xe mô tô đến giao lộ Tăng Bạt Hổ - Đào Duy Anh thuộc phường Thuận Lộc, quận Phú Xuân, thành phố Huế thì bị Công an phát hiện, bắt qủa tang và thu giữ 02 (Hai) túi ni lông màu trắng, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng.

* Vật chứng thu giữ:

- 02 (hai) túi ni lông màu trắng, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số: 75B1 - 103.34, màu sơn: Xanh trắng, số máy: 55P1078660, số khung: RLCE55P10CY078648.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imel: 35439206262954.

Tại bản Kết luận giám định số 729/KL-KTHS ngày 11/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định có tổng khối lượng là 0,1747g (Không phẩy một bảy bốn bảy gam) là ma túy, loại Methamphetamine.

Hoàn lại đối tượng giám định gồm: 0,1047g (Không phẩy một không bốn bảy gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng; Các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định. Tất cả được niêm phong theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKSPX ngày 13/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Xuân, thành phố Huế đã truy tố bị cáo Trần Văn B về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt: Bị cáo Trần Văn B mức hình phạt từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Văn B.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 0,1047g (Không phẩy một không bốn bảy gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng. Các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imel: 35439206262954.

- Đối với xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số: 75B1 - 103.34 thu giữ từ bị cáo Trần Văn B. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đã xử lý trả lại cho anh Trần Văn Anh Tuấn.

Đối với đối tượng tên Sanh được xác minh là Lê Kim Tiến, sinh ngày 23/10/2000, trú tại tổ 5, khu vực 3, phường Hương Sơ, quận Phú Xuân, thành phố Huế đã bán ma túy cho Trần Văn B, hiện không có mặt ở địa phương, không biết đang ở đâu. Cơ quan cảnh sát đã tách ra, tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ, xử lý sau.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Văn B phải chịu 200.000đ.

- Ý kiến tranh luận của bị cáo: Bị cáo Trần Văn B không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Văn B: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng đã truy tố; đã ăn năn hối cải, không dám tái phạm. Mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình, hoà nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo thủ tục chung.

[3] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp lưu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Bị cáo Trần Văn B là đối tượng nghiện ma túy, vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 08/10/2024 tại giao lộ Tăng Bạt Hổ - Đào Duy Anh thuộc phường Thuận Lộc, quận Phú Xuân, thành phố Huế, bị cáo Trần Văn B đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1747g (Không phẩy một bảy bốn bảy gam) ma túy, loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Tại bản Kết luận giám định số 729/KL-KTHS ngày 11/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định có tổng khối lượng là 0,1747g (Không phẩy một bảy bốn bảy gam) là ma túy, loại Methamphetamine.

Do đó, có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Trần Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự:

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) …Methamphetamine,…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…”

[4] Tính chất mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần xử lý bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 0,1047g (Không phẩy một không bốn bảy gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng, là mẫu vật còn lại sau giám định. Các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định là vật cấm lưu hành, tàng trữ nên cần phải tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imel: 35439206262954 là phương tiện để bị cáo liên lạc với người tên Sanh để mua ma túy, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

- Đối với xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số: 75B1 - 103.34, màu sơn: Xanh trắng, số máy: 55P1078660, số khung: RLCE55P10CY078648 đã trả lại cho anh Trần Văn Anh Tuấn là đúng quy định của pháp luật.

[7] Đối với đối tượng tên Sanh được xác minh là Lê Kim Tiến, sinh ngày 23/10/2000, trú tại tổ 5, khu vực 3, phường Hương Sơ, quận Phú Xuân, thành phố Huế đã bán ma túy cho Trần Văn B, hiện không có mặt ở địa phương, không biết đang ở đâu. Cơ quan cảnh sát điều tra, tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ, là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Văn B.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Văn B phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

[9] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Xuân về hình phạt, tình tiết giảm nhẹ, xử lý vật chứng là phù hợp, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn B 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 09/10/2024).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

- Tịch thu tiêu hủy 0,1047g (Không phẩy một không bốn bảy gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng. Các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imel: 35439206262954.

Các vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Xuân, thành phố Huế theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Phú Xuân, thành phố Huế và Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Xuân, thành phố Huế.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Văn B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn B có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND TP Huế;

- VKSND TP Huế;

- Công an TP Huế (Phòng PV06);

- VKSND q. Phú Xuân;

- Chi cục THADS q Phú Xuân;

- Bị cáo; NCQLNVLQ;

- Án văn;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Hiền

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ