vanban.org

Bản án 27/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Võ Đức C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Võ Đức C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 28/6/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Đức C bị truy tố về tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Đức C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST
Ngày: 20-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI

THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Đinh Thị Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Hanh

Bà Nguyễn Thị Phượng

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 18/2025/HSST ngày 08 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Đức C, Tên gọi khác: Nhóc

Giới tính: Nam

Sinh ngày 20/7/1993 tại tỉnh Bình Phước (cũ)

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Khu phố P, phường P, tỉnh Đồng Nai

Nghề nghiệp: Làm nông

Trình độ học vấn: 3/12

Quốc tịch Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Con ông Võ P – sinh năm 1959 và bà Đỗ Thị Kim H – sinh năm 1959

Vợ, con: Chưa có

Tiền án: 03

- Ngày 14/3/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước (cũ) xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp Hnh xong hình phạt tù ngày 06/9/2018;

- Ngày 17/7/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước (cũ) xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp Hnh xong hình phạt tù ngày 08/6/2020;

- Ngày 12/5/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước (cũ) xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 18/2022/HS-ST, chấp Hnh xong hình phạt tù ngày 15/11/2024.

Tiền sự: Không

Nhân thân: Bị Toà án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước (cũ) quyết định áp dụng biện pháp xử lý Hnh chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 02 năm tại Quyết định số 18/QĐ-TA ngày 16/5/2025.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/6/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực Phước Long thuộc Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh Đồng Nai. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

Ông Phạm Anh T – sinh năm 1999. Vắng mặt

Địa chỉ: Khu phố 5, phường Phước Long, tỉnh Đồng Nai

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Đặng Thị H – sinh năm 1987. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn Phước Sơn, xã Phú Nghĩa, tỉnh Đồng Nai

Bà Đỗ Thị Kim H – sinh năm 1959. Vắng mặt

Địa chỉ: Khu phố P, phường Phước Bình, tỉnh Đồng Nai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 15 phút ngày 26/04/2025, ông Phạm Anh T đậu xe máy xúc tại khu đất trống thuộc khu phố P, phường Phước Bình, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước (nay là khu phố P, phường Phước Bình, tỉnh Đồng Nai). Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Võ Đức C đi mót hạt điều gần đó, thấy xe không có người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản, bán lấy tiền tiêu xài. C đến lấy 02 cà lê có sẵn trên xe, đập phá khóa cửa trái sau cabin, tháo 02 bình Ắc quy GS loại N120 (12v-120Ah), mang đến vườn cao su gần đó, tháo dây nối 02 bình, đổ a-xít trong bình ắc quy ra. Do bình nặng nên C về nH lấy xe đạp hiệu Martin của gia đình đến chở 02 bình ắc quy đến điểm thu mua phế liệu của bà Dương Thị M (ở cùng khu phố nhưng bà M không có ở nH. C nhớ đến số điện thoại của bà Đặng Thị H (là người mua phế liệu lưu động) nên C mượn điện thoại của Nguyễn Văn H (con bà M) gọi điện cho bà H để thỏa thuận việc bán bình Ắc quy. Khoảng 15 phút sau, bà H đến mua 02 bình Ắc quy trên với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng).

Sau khi nhận tiền, C điều khiển xe đạp đến đường Võ Văn Kiệt thuộc phường Sơn Giang, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước (nay là phường Phước Long, tỉnh Đồng Nai) mua 600.000 đồng Heroin của một đối tượng không rõ nhân thân lai lịch. C tiếp tục điều khiển xe đến khu vực đập Đn thuộc khu phố P, phường Phước Bình, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước (nay là khu phố Phước An, phường Phước Bình, tỉnh Đồng Nai), một mình sử dụng hết số ma túy vừa mua. Số tiền 400.000 đồng còn lại, C mua thuốc lá hết 15.000 đồng, còn 375.000 đồng C cất trong túi quần.

Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, ông T quay lại xe máy xúc, phát hiện mất tài sản nên đã báo C an phường Phước Bình. Qua truy xét, lực lượng C an làm việc với C và C đã khai nhận Hnh vi phạm tội của mình.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT C an tỉnh Bình Phước (cũ) đã thu giữ 02 bình Ắc quy GS loại N120 (12v-120Ah); 02 cờ lê loại khóa 30, 36; 01 xe đạp màu bạc hiệu Martin;sSố tiền 375.000 đồng.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 07/HĐ.ĐGTSTTTHS.25 ngày 12/05/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Phước Long (cũ), xác định giá trị tài sản C chiếm đoạt là 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng).

Tại Bản cáo trạng số 12/CT-VKSPR ngày 04/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai đã truy tố bị cáo Võ Đức C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận Hnh vi phạm tội như trên và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Võ Đức C mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng trong vụ án.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về Hnh vi, quyết định của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng. Do đó, các Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và chứng cứ khác được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó đã xác định được: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 26/4/2025, tại khu phố P, phường Phước Bình, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước (nay là khu phố P, phường Phước Bình, tỉnh Đồng Nai), Võ Đức C lén lút lấy trộm 02 bình Ắc quy GS loại N120 (12v-120Ah) của ông Phạm Anh T. Căn cứ kết quả giám định, tài sản mà bị can chiếm đoạt trị giá: 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng).

Hnh vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản của C dân được pháp luật bảo vệ. Hnh vi của bị cáo làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

* Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

* Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều tHnh khẩn khai báo về Hnh vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, đã có 03 tiền án về Hnh vi trộm cắp tài sản nhưng lại tiếp tục thực hiện Hnh vi trộm cắp tài sản. Như vậy, bị cáo không có ý thức ăn năn, hối cải về Hnh vi của mình nên cần xem xét, xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ Hnh vi phạm tội của bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Người bị hại ông Phạm Anh T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị H đã nhận lại số tiền 01 triệu đồng do bà Đỗ Thị Kim H (mẹ bị cáo) bồi thường. Bà H không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 01 triệu đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 02 bình Ắc quy GS loại N120 (12v-120Ah); 02 cờ lê loại khóa 30, 36, là tài sản hợp pháp của người bị hại Phạm Anh T nên ngày 20/6/2025, Cơ quan CSĐT C an tỉnh Bình Phước (cũ) đã trả lại cho ông T nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với 01 xe đạp màu bạc, hiệu Martin, quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bà Đỗ Thị Kim H (mẹ của bị cáo). Bà H không biết C sử dụng làm phương tiện phạm tội nên ngày 15/6/2025, Cơ quan CSĐT C an tỉnh Bình Phước (cũ), đã trả lại cho bà H nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với số tiền 375.000 đồng, là tiền bị cáo thu lợi bất chính nên cần tịch thu nộp Ngân sách nH nước.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Đức C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Võ Đức C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 28/6/2025.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, nộp ngân sách nH nước số tiền 375.000 đồng (Ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 25/16 ngày 12/9/2025 giữa C an tỉnh Đồng Nai và Phòng Thi Hnh án dân sự khu vực 11 – Đồng Nai).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết về án phí, lệ phí: Buộc bị cáo Võ Đức C phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ