vanban.org

Bản án 27/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.T.V.P đối với ông T.T.H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà T.T.V.P được ly hôn với ông T.T.H. Giấy chứng nhận kết hôn số 274, do UBND phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/9/2016 cho bà T.T.V.P và ông T.T.H không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.T.V.P đối với ông T.T.H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 09/01/2025
V/v tranh chấp: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Kim Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Minh Khiết;

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Trà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1186/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 833/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 647/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà T.T.V.P, sinh năm 1994

Địa chỉ thường trú: 171/29 đường G, phường B, quận B, Thành phố H (có đơn xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông T.T.H, sinh năm 1990

Địa chỉ thường trú: 171/29 đường G, phường B, quận B, Thành phố H (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 9 năm 2024, bản tự khai và các biên bản không tiến hành hòa giải được tại Tòa cùng các tài liệu chứng cứ khác do các bên đương sự cung cấp thì nội dung vụ án được xác định như sau:

Nguyên đơn bà T.T.V.P trình bày: Bà và ông T.T.H kết hôn vào năm 2016, đôi bên có đăng ký kết hôn. Giấy chứng nhận kết hôn số 274, do UBND phường B, quận B, Thành phố H cấp ngày 27/9/2016. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do đôi bên thường xuyên bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Ông H có hành vi ngoại tình, bỏ nhà đi nơi khác để chung sống với một người phụ nữ khác. Bà đã nhiều lần góp ý khuyên can cũng như tha thứ để cho Ông H một cơ hội nhưng Ông H vẫn không thay đổi. Mâu thuẫn trong gia đình ngày càng trầm trọng nên bà và Ông H đã sống ly thân từ tháng 07/2023 đến nay. Hiện nay, bà xác định mâu thuẫn giữa đôi bên đã rất trầm trọng, thời gian hai bên sống ly thân đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với Ông H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên: T.B.L, sinh ngày 28/11/2022, con chung hiện đang sống chung với bà, do bà trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc.

Về người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Bà tự nguyện không yêu cầu Ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bận công việc, bà xin được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Vụ án không tiến hành hòa giải được do vắng mặt bị đơn. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà P vẫn giữ nguyên yêu cầu và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn Ông H tiếp tục vắng mặt không rõ lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu ý kiến và kết luận:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền, thủ tục. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Thời hạn xét xử đảm bảo theo quy định tại điều 203 Bộ Luật tố tụng dân sự

2. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện Kiểm sát căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà T.T.V.P có đơn xin ly hôn với ông T.T.H. Bị đơn Ông H có nơi cư trú tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn bà P có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn là phù hợp. Đối với bị đơn Ông H, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Ông H.

Về nội dung tranh chấp: Xét qua yêu cầu xin ly hôn của bà P đối với Ông H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Qua lời trình bày của bà P thì trong thời gian chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do đôi bên bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vả, đôi bên không tìm được tiếng nói chung. Ông H có hành vi ngoại tình, bỏ nhà đi nơi khác để chung sống với người phụ nữ khác. Bà P đã nhiều lần góp ý khuyên can, nhưng Ông H vẫn không thay đổi. Nhận thấy, đôi bên xảy ra quá nhiều mâu thuẫn không thể nào hàn gắn tình cảm được. Hiện nay, bà P xác định mâu thuẫn giữa đôi bên đã rất trầm trọng, thời gian sống ly thân đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà P kiên quyết yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với Ông H. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà P và Ông H đã trầm trọng, không còn khả năng để hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tòa án đã mở phiên hòa giải cũng như cho thời gian để tạo cơ hội cho bà P và Ông H hàn gắn tình cảm nhưng Ông H không đến Tòa, không thể hiện thiện chí hòa giải với bà P. Việc Ông H không đến tòa đã thể hiện ý chí bỏ mặc, không quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân với bà P. Nay, bà P yêu cầu ly hôn với Ông H vì tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P.

Về con chung: Việc nuôi dưỡng, chăm sóc con là quyền, đồng thời là nghĩa vụ của cha mẹ, nhưng phải dựa trên cơ sở đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con cái. Xét yêu cầu nuôi con chung của bà P, nhận thấy con chung của bà P và Ông H là trẻ T.B.L, sinh ngày 28/11/2022 trên thực tế đang sống chung với bà P, được bà P trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc. Bà P có yêu cầu được nuôi con chung, Ông H không đến tham gia phiên tòa để trình bày ý kiến của mình, do đó Ông H đã từ bỏ quyền phản đối của mình. Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét yêu cầu của Ông H, nghĩ nên giao con chung cho bà P được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà P tự nguyện không yêu cầu Ông H cấp dưỡng nuôi con chung. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, Hội đồng xét xử nghĩ nên ghi nhận.

Về tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà P xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Đối với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy các ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình thức và nội dung là phù hợp với quy định của pháp luật, nghĩ nên chấp nhận.

Về án phí: Bà T.T.V.P chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 19, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.T.V.P đối với ông T.T.H.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà T.T.V.P được ly hôn với ông T.T.H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 274, do UBND phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/9/2016 cho bà T.T.V.P và ông T.T.H không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

- Về con chung: Giao con chung chưa thành niên là trẻ T.B.L, sinh ngày 28/11/2022 cho bà T.T.V.P được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà P về việc không yêu cầu Ông H cấp dưỡng nuôi các con chung.

Ông T.T.H có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung sau ly hôn, bà P và Ông H đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà P xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí: Bà T.T.V.P chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí bà P đã nộp theo biên lai số 0043590 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, bà P đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao nhận, tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lưu Kim Ngân

Nơi nhận:

- VKSND Q. Bình Tân;

- CC THADS Q. Bình Tân;

- Các đương sự;

- CQ đã thực hiện việc ĐKKH;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND Q. Bình Tân;

- CC THADS Q. Bình Tân;

- Các đương sự;

- CQ đã thực hiện việc ĐKKH;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Lưu Kim Ngân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lưu Kim Ngân

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp;

- Chi Cục THADS Q.Bình Tân;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

- Cơ quan đã thực hiện việc ĐKKH.

Lưu Kim Ngân

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ