- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị L ly hôn với anh T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Mỹ L. Chị Võ Thị Mỹ L được ly hôn với anh Trần Hữu T.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22-8-2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Đình Khôi và bà Phạm Thị Liễu.
- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Thanh Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: bà Lại Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Đồng Nai, xét xử công khai vụ án thụ lý số 165/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 04 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Võ Thị Mỹ L – sinh năm 1998.
Nơi cư trú: thôn 1, xã Đạ Huoai 2 (xã Hà Lâm, huyện Đạ Huoai cũ), tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: anh Trần Hữu T – sinh năm 1986.
Địa chỉ: tổ 7, ấp 2, xã Nam Cát Tiên (xã Nam Cát Tiên, huyện Tân Phú
cũ) tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/03/2025; lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn là bà Võ Thị Mỹ L trình bày:
Về hôn nhân: chị L và anh T T đến hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 07/6/2017 tại Uỷ ban nhân dân xã Nam Cát Tiên (xã Nam Cát Tiên, huyện Tân Phú cũ), tỉnh Đồng Nai.Trong cuộc sống vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc, hay xảy ra cãi vã nhau do tính cách không hợp nhau.Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay không còn quan tâm chăm sóc nhau, mỗi người có cuộc sống riêng. Nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị L yêu cầu ly hôn với anh T.
Về con chung: có 01 người con chung là cháu Trần Quốc Th - sinh ngày 27/3/2017. Khi ly hôn chị L đồng ý giao cháu Th cho anh T nuôi dưỡng và chị L không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của bị đơn anh Trần Hữu T: Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa anh T đều vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp L nhưng vẫn vắng mặt không có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; về quan hệ pháp luật, xác định tư cách pháp lý của đương sự, thẩm quyền thụ lý của Tòa án, thủ tục thu thập chứng cứ đúng quy định; quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ, thủ tục cấp tống đạt cho các đương sự đảm bảo theo quy định pháp luật. Các quyền nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo thực hiện. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã T hành tố tụng đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật nên Viện kiểm sát không có ý kiến hay kiến nghị gì.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị L, cho chị Võ Thị Mỹ L được ly hôn với anh Trần Hữu T.
- Về con chung: Giao con chung là Trần Quốc Th - sinh ngày 27/3/2017 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị L không cấp dưỡng nuôi con
- Về tài sản, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: chị L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: bị đơn anh Trần Hữu T cư trú tại xã Nam Cát Tiên, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8 theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật: chị L yêu cầu khởi kiện ly hôn tranh chấp nuôi con chung nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về xác định tư cách đương sự: bà Võ Thị Mỹ L là nguyên đơn; ông Trần Hữu T là bị đơn theo Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã T hành tống đạt hợp L các văn bản tố tụng cho chị L và anh T nhưng chị L vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt không rõ lý do. Vì vậy, Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: chị L và anh T có đăng ký kết hôn vào ngày 07/6/2017 tại Uỷ ban nhân dân xã Nam Cát Tiên (xã Nam Cát Tiên, huyện Tân Phú cũ), tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, hôn nhân giữa chị L, anh T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Đời sống hôn nhân của chị L, anh T phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm. Từ năm 2019 đến nay chị L, anh T đã không còn sống chung với nhau, vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Từ những lý do nêu trên, xác định được chị L, anh T trong quá trình sống chung đã không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình; làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình thì yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh T là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Xét thấy từ khi chị L, anh T không còn sống chung thì con chung do anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, con chung được đi học và sống trong môi trường đảm bảo các điều kiện phát triển tốt về mọi mặt, ngoài ra cháu Th có nguyện vọng sống chung với anh T. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Trần Quốc Th - sinh ngày 27/3/2017 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị L có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản và nợ chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.
Về án phí: chị Võ Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 68, 147, 207, 220, 227, 228, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 19, 51, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, L phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Mỹ L. Chị Võ Thị Mỹ L được ly hôn với anh Trần Hữu T.
- Về con chung: Giao cháu Trần Quốc Th - sinh ngày 27/3/2017 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị L có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản và nợ chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.
- Về án phí: chị Võ Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn. Được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai số 0020980 ngày 04/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 – Đồng Nai, Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai). Chị L đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, nên được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND Khu vực 8; - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai; - Các đương sự (để thi hành); - UBND xã Nam Cát Tiên (để ghi vào sổ hộ tịch ĐK ngày 07/6/2017) - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tuấn |