- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Vi Thị Đ yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Lê Văn Đ"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Vi Thị Đ
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2025/HNGĐ – ST Ngày: 29/9/2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhã Phương.
- Các hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Tuyết và ông Lê Khắc Dũng
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm Xuân Quyết – Cán bộ Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đăk Lăk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânkhu vực 7 – Đăk Lăk tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Nguyệt- Kiểm sát viên.
Ngày 29/9/2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 – Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 206/2025/TLST - HNGĐ, ngày 04 tháng 6 năm 2025; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số17a/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25/8/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số16/2025/QĐST-HNGĐ,ngày 11/9/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Vi Thị Đ, sinh năm 2002. Địa chỉ: Thôn 6, xã C, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là thôn 6, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk). Vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
* Bị đơn: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn Đ, xã E, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là thôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Vi Thị Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Vi Thị Đ và ông Lê Văn Đ kết hôn trên cở sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk ngày 17/12/2024. Trong cuộc sống do cả hai bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Đến tháng 4/2025 mâu thuẫn đến đỉnh điểm, ông Lê Văn Đ có hành vi đánh bà Vi Thị Đ dẫn đến nhập viện và bà Vi Thị Đ phải về nhà bố mẹ để sống từ đó cho đến nay. Mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hòa giải nên bà Vi Thị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Lê Văn Đ.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lê Minh K, sinh ngày 26/12/2024. Bà Vi Thị Đ có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).
Về yêu cầu cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 7 – ĐăkLăk đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Lê Văn Đ để tham gia tố tụng, nhưng ông Lê Văn Đ vắng mặt không có lý do. Vì vậy, vụ án không tiến hành được phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Căn cứ vào Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đăk Lăk đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ Điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 tham gia phiên tòa:
Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã ban hành các quyết định, cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự đúng quy định. Thành phần Hội đồng xét xử đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật; Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vi Thị Đ. Cho bà Vi Thị Đ được ly hôn với ông Lê Văn Đ.
- Về con chung: Giao con chung Lê Minh K, sinh ngày 26/12/2024 cho bà Vi Thị Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết.
Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Vi Thị Đ có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đăk Lăk giải quyết việc ly hôn, con chung đối với ông Lê Văn Đ, đơn khởi kiện của bà được Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đăk Lăk xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”, được quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đăk Lăk.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Vi Thị Đ và ông Lê Văn Đ tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk ngày 17/12/2024, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, quá trình chung sống do bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã nhau nên đã ly thân từ tháng 4/2025 cho đến nay, xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài. Vì vậy bà Vi Thị Đ có nguyện vọng xin được ly hôn với ông Lê Văn Đ.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương không biết mẫu thuẫn của hai vợ chồng, tuy nhiên qua nắm bắt tình hình địa phương thì được biết bà Vi Thị Đ đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở huyện M, tỉnh Đắk Lắk từ tháng 5/2025.
Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vi Thị Đ, cho bà Vi Thị Đ được ly hôn với ông Lê Văn Đ.
Về con chung: Bà Vi Thị Đ và ông Lê Văn Đ có 01 con chung là Lê Minh K, sinh ngày 26/12/2024.
Bà Vi Thị Đ có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Đồng thời con chung Lê Minh K dưới 36 tháng tuổi. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển bình thường về tâm, sinh lý, cũng như để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giao Lê Minh K, sinh ngày 26/12/2024 cho bà Vi Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi.
Về yêu cầu cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyếtnên không đề cập.
Về án phí: Bà Vi Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 203, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, và Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82 và Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Vi Thị Đ
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vi Thị Đ được ly hôn với ông Lê Văn Đ.
[2]. Về con chung: Giao con chung Lê Minh K, sinh ngày 26/12/2024 cho bà Vi Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu nên không giải quyết.
Ông Lê Văn Đ được quyền đi lại thăm nom con chung và không ai được cản trở. Tuy nhiên, ông Lê Văn Đ không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết, các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung.
[3]. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết
[4]. Về án phí: Bà Vi Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2023/0001261, ngày 02 tháng 6 năm 2025, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7).
[5]. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./
| Nơi nhận - TAND tỉnh Đắk Lắk - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND khu vực 7 - ĐăkLăk; - Phòng THADS khu vực 7; - UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Thị Nhã Phương |