vanban.org

Bản án 27/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Phạm Ngọc Q đối với bị đơn ông Hoàng Huy H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Phạm Ngọc Q và ông Hoàng H2 Hiếu thuận tình ly hôn. Về con chung: Ông Hoàng Huy H là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung cháu Hoàng Gia K, sinh ngày 02/10/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quỳnh - Hiếu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Phạm Ngọc Q đối với bị đơn ông Hoàng Huy H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 15-8-2025.
“V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Phong.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Hằng

Bà Huỳnh Thị Thùy Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh không tham gia phiên tòa:

Ngày 15 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 191/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HN ngày 22/7/2025 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Đinh Phạm Ngọc Q, sinh năm 2002; CCCD xxxxxxxxxxxx; địa chỉ thường trú: Số nhà G, đường D, tổ D, khu phố E, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Lê Hồng Q1 - Đoàn luật sư Thành phố H.

2. Bị đơn: Ông Hoàng Huy H, sinh năm 1993; CCCD; xxxxxxxxxxx; địa chỉ thường trú: Số H, ĐX 005, tổ D, khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đinh Phạm Ngọc Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Phạm Ngọc Q và ông Hoàng Huy H tự nguyện tìm hiểu, chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh (nay phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 32/2021 cấp ngày 08/4/2021. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu rất hạnh phúc, tuy nhiên những năm gần đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do giữa vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm, thường xuyên tranh cãi và không còn có tiếng nói chung trong cuộc sống. Mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được, cuộc sống vợ chồng giờ đây không còn tình cảm và không còn muốn sống chung cùng nhau, hiện vợ chồng đã sống ly thân với nhau, không quan tâm gì đến gia đình. Chuyện lên đến đỉnh điểm là anh H đã tìm cách lừa gia đình bà Q cho anh H đưa cháu K về nhà chơi rồi sau đó chiếm giữ luôn châu K mà không trả lại nơi cháu đã nhập hộ khẩu và đang đi học. Cùng với đó, anh H đã bằng cách nào đó mà đã chuyển hộ khẩu của cháu K từ nhà của bà Q để nhập vào gia đình anh H. Việc chuyển đăng ký thường trú này mà chưa có ý kiến của bà Q và chủ hộ gia đình là hoàn toàn trái quy định của pháp luật. Ông H đột ngột thay đổi từ thái độ hờ hững, bỏ mặc cháu K cho bà Q chăm sóc để quay lại giành giựt nuôi cháu. Nguyên nhân là anh H và gia đình anh H mê tín dị đoan cho rằng cháu K rất hợp với gia đình anh H, nếu gia đình anh H mà nuôi cháu K thì cả gia đình, dòng họ được vinh hoa phú quý cho nên ông H và gia đình mới ra sức tìm mọi cách để giành nuôi cháu K. Bản thân anh H1 không có nghề nghiệp ổn định từ trước khi cưới cho tới nay cho nên bà Q chỉ một mình nuôi con, ngoài việc bà Q có công việc, thu nhập ổn định thì gia đình cũng dành tất cả vật chất, tình thương cho cháu K. Nay yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Hoàng Huy H.

- Về con chung: Bà Đinh Phạm Ngọc Q và ông Hoàng Huy H có một con chung tên Hoàng Gia K, sinh ngày 02/10/2019. Sau khi ly hôn, bà Đinh Phạm Ngọc Q đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng Gia K sinh ngày 02/10/2029.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Đinh Phạm Ngọc Q bà Q yêu cầu và ông Hoàng Huy H cấp dưỡng là 3.000.000 đồng/tháng. Nay bà Đinh Phạm Ngọc Q xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Hoàng Huy H trình bày: Ông Hoàng Huy H thống nhất sống chung như vợ chồng sống chung như vợ chồng và đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân phường B, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh(nay phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 32/2021 cấp ngày 08/4/2021. Hiện nay cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng hiện đã sống ly thân với nhau.

Trước yêu cầu khởi kiện của bà Q ông H có ý kiến như sau:

Về quan hệ hôn nhân: ông Hoàng Huy H đồng ý ly hôn với bà Đinh Phạm Ngọc Q.

Về con chung: Bà Đinh Phạm Ngọc Q và ông Hoàng Huy H có một con chung tên Hoàng Gia K, sinh ngày 02/10/2019. Sau khi ly hôn ông H có không đồng ý theo yêu cầu của bà Q về con chung: Bà Q hiện nay không có công việc ổn định, sống phụ thuộc gia đình. Qua tìm hiểu thì ông H phát hiện bà Q có dấu hiệu ngoại tình, đây cũng là lý do dẫn đến việc ly hôn của hai vợ chồng. Hiện cháu Hoàng Gia K từ trước đến nay vẫn luôn sống chung cùng ông H và là người trực tiếp nuôi dưỡng, đưa đón đi học, tại trường mầm non K1 thuộc địa bàn phường P thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) nơi ông H đang cư trú và có nhà cửa ổn định và cũng đang làm hồ sơ để cháu K chuẩn bị vào lớp 01(một). Bản thân ông H cũng có công việc, thu nhập ổn định, nên để ông H đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cháu có cuộc sống ổn định, phát triển. Do đó yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung tên Hoàng Gia K, sinh ngày 02/10/2019. Ông H không đồng ý với lời trình bày của bà Q về tranh chấp nuôi con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Hoàng Huy H không yêu cầu bà Đinh Phạm Ngọc Q cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn Luật sư Lê Hồng Q1 có ý kiến như sau: Bà Q là người đang trực tiếp nuôi dưỡng chau K, tuy nhiên khi bà Q cho anh H đưa cháu K về nhà ông H và sau đó chiếm giữ luôn châu K và việc chuyển hộ khẩu của cháu K từ nhà của bà Q để nhập vào gia đình anh H là hoàn toàn trái quy định của pháp luật không được sự đồng ý của gia đình bà Q. Gia đình anh H mê tín dị đoan cho rằng cháu K rất hợp với gia đình anh H nên mới ra sức tìm mọi cách để giành nuôi cháu K. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho bà Đinh Phạm Ngọc Q được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng Gia K sinh ngày 02/10/2029 và ghi nhận thuận tình ly hôn giữa bà Q và ông H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện bà Đinh Phạm Ngọc Q là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là ông Hoàng Huy H có địa chỉ cư trú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân Khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Về nội sung vụ án: Bà Đinh Phạm Ngọc Q yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Hoàng Huy H và bà Đinh Phạm Ngọc Q và về con chung đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng Gia K sinh ngày 02/10/2029. Ông H đồng ý ly hôn với bà Q và không đồng ý về giao con chung cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng.

Xét thấy: Về quan hệ hôn nhân: Ông Hoàng Huy H và bà Đinh Phạm Ngọc Q quá trình tố tụng và tại phiên tòa thuận tình ly hôn phù hợp với Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, do đó hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa ông Hoàng Huy H và bà Đinh Phạm Ngọc Q.

Về tranh chấp về con chung: Bà Đinh Phạm Ngọc Q và ông Hoàng Huy H có 01(một) con chung tên Hoàng Gia K, sinh ngày 02/10/2019, bà Đinh Phạm Ngọc Q đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng Gia K. Ông Hoàng Huy H không đồng ý yêu cầu này của bà Q vì hiện cháu Hoàng Gia K đang sống chung cùng ông H và là người trực tiếp nuôi dưỡng.

Hội đồng xét xử thấy rằng; Xét nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con chung là cha mẹ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng, thương yêu con, chăm lo giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ của con chưa thành niên. Hiện tại, ông H và bà Q đều có công việc và có mức thu nhập ổn định và điều kiện chăm sóc nuôi con. Ông H và bà Q đều cho rằng bản thân yêu thương con và mong muốn được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu K và đều có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung và theo quy định của pháp luật cha mẹ có quyền ngang nhau trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con thành người tốt, thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên hiện nay con chung cháu Hoàng Gia K, sinh ngày 02/10/2019 do ông H đang trực tiếp nuôi dưỡng và học tại địa bàn phường P thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) và có nhân hộ khẩu cùng với ông H. Do đó cần tạo điều kiện thận lợi nhất cho cháu K tiếp tục học lớp 01 năm 2025-2026 nên cần giao cháu Hoàng Gia K, sinh ngày 02/10/2019 cho ông Hoàng Huy H tiếp chăm sóc nuôi dưỡng để đảm bảo điều kiện và thuận lợi trong việc học của cháu K.

Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Lê Hồng Q1 không phù hợp nên không được chấp nhận.

Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Phạm Ngọc Q đối với bị đơn ông Hoàng Huy H về việc “Ly hôn”. Không chấp nhận yêu cầu trực tiếp nuôi con chung.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đinh Phạm Ngọc Q phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 266, 273 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ các Điều 55, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Phạm Ngọc Q đối với bị đơn ông Hoàng Huy H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Phạm Ngọc Q và ông Hoàng H2 Hiếu thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Ông Hoàng Huy H là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung cháu Hoàng Gia K, sinh ngày 02/10/2019.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chung khi một trong các đương sự hoặc cả hai đương sự có yêu cầu thay đổi người nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con khi xét thấy cần thiết.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà bà Đinh Phạm Ngọc Q nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001562 ngày 27/3/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Các đương sự thi hành án tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Án xử sơ thẩm công khai, đương sự (hoặc người đại diện đương sự) có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tổng đạt hợp lệ bản án sơ thẩm. Viện Kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ