vanban.org

Bản án 27/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Tuyên án 26/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng A C 01(một) năm 04(bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/5/2024. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÁT XÁT
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HSST
Ngày 26/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm tại điểm cầu trung tâm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tưởng Thị Tuyết

Ông Sần Thó Suy

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Lý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai mở phiên toà trực tuyến xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2024/HSSTngày 31/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST- HS ngày 14/6/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vàng A C- Tên gọi khác: không; giới tính: Nam

Sinh ngày 01/01/1974 tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn P, xã Y, huyện B, tỉnh Lào Cai Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng A T(đã chết) và bà Hầu Thị S, sinh năm: 1947; có vợ Tráng Thị X, sinh năm 1968; cư trú tại: Thôn P xã Y, huyện B, tỉnh Lào Cai; có 03 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh 1998; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ 05/5/2024, đến này 11/5/2024 bị tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai- Có mặt tại điểm cầu thành phần Phòng trực tuyến Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

- Tại điểm cầu trung tâm của phiên toà trực tuyến:

Người chứng kiến: Anh Vàng A Cấu; Địa chỉ: Thôn Phan Cán Sử, xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai- Vắng mặt.

- Tại điểm cầu thành phần: Phòng trực tuyến Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

+ Người tiến hành tố tụng:

Thư ký: Bà Đỗ Thị Hồng Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai: Ông Nguyễn Văn Cường.

+ Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Hương Thuỷ- Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai- Có mặt.

+ Người tham gia tố tụng khác: Ông Đinh Công Bằng- Cán bộ Đội cảnh sát thi hành án Hình sự và hỗ trợ tư pháp - Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

NỘI DỤNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ, ngày 04/5/2024 bị cáo Vàng A C đang ở nhà thì nảy sinh ý định đi mua ma tuý về để sử dụng. Bị cáo mang theo 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) gặp một người đàn ông không quen biết ở ngã ba Nhìu Cồ San, thuộc thôn Mò Phú Chải, xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai và mua của người đàn ông này 01(một) gói ma tuý với giá 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma tuý bị cáo giấu gói ma tuý mua được vào túi áo ngực đang mặc đi về nhà. Về nhà, bị cáo dùng móng tay cấu một ít ma tuý vừa mua được để sử dụng, sau đó gói lại và cất trong túi áo ngực bên trái đang mặc. Đến khoảng 07 giờ 45 phút, ngày 05/5/2024 bị cáo đang ở nhà thì bị Công an xã Y Tý đang làm nhiệm vụ tại thôn Phan Cán Sử, xã Y Tý, huyện Bát Xát tiến hành kiểm tra. Bị cáo tự lấy từ trong túi áo ngực bên trái đang mặc giao nộp 01(một) gói nilon màu trắng bên trong chứa chất bột khô, màu trắng giao cho tổ công tác và khai nhận là ma tuý Hêrôin mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật. Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Bát Xát khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo nhưng không phát hiện và thu giữ gì.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định đối với vật chứng thu giữ ngày 05/5/2024 của bị cáo. Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định giữa Công an huyện Bát Xát và Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai ngày 06/5/2024 xác định: 01(một) gói nilon mầu trắng bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, có khối lượng 0,575(Không phẩy năm trăm bẩy mươi lăm) gam. Trích mẫu giám định 0,103(Không phẩy một trăm linh ba) gam để tiến hành giám định, còn lại 0,472(Không phẩy bốn trăm bẩy mươi hai) gam hoàn lại cơ quan trưng cầu.

Tại kết luận giám định về ma tuý số 192/KL- GĐMT ngày 09/5/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã kết luận: 0,575(Không phẩy năm trăm bẩy mươi lăm) gam chất bột khô, màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Heroine (Heroin).

Cáo trạng số 21/CT- VKSBX ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát truy tố bị cáo Vàng A C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát giữ quyền công tố luận tội: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận tội, lời nhận tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định. Vì vậy, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Vàng A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ đến 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 0,472(Không phẩy bốn trăm bẩy mươi hai) gam Heroine (Heroin) còn lại sau trích mẫu giám định; mảnh nilon màu trắng.

Trả lại cho bị cáo 01(một) căn cước công dân tên Vàng A C, số CCCD 010074005027 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 06/7/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tuyên miễn án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà: Bị cáo Vàng A C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Quan điểm của người bào chữa: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ, nên nhận thức còn hạn chế; hoàn cảnh gia đình thuộc hộ cận nghèo; không có tiền án, tiền sự; Sau khi phạm tội thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; không phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Miễn tiền án phí cho bị cáo theo quy định tại đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều thực hiện hợp pháp.

Hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo khai nhận do bị cáo nghiện ma túy nên khoảng 08 giờ, ngày 04/5/2024 bị cáo mua ma tuý của một người đàn ông không quen biết ở ngã ba Nhìu Cồ San, thuộc thôn Mò Phú Chải, xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) được 0,575(Không phẩy năm trăm bẩy mươi lăm) gam ma túy Heroine (Heroin) để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 07 giờ 45 phút, ngày 05/5/2024 bị cáo bị Công an xã Y Tý phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ ma túy. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định về ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Vàng A C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,575(Không phẩy năm trăm bẩy mươi lăm) gam ma túy Heroine(Heroin) mục đích để sử dụng cho bản thân nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng ma túy bị thu giữ. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo là đối tượng nghiện chất ma tuý. Vì vậy, phải xử phạt bị cáo thật nghiêm khắc trước pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Đối với quan điểm của người bào chữa cho rằng bị cáo là người dân tộc, nhận thức pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình thuộc hộ cận nghèo; không có tiền án, tiền sự; Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù là không đánh giá đúng tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi bị bắt, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử, xét thấy điều kiện hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, không có khả năng để thi hành án nên không áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền với đối bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đối với số vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định 0,472(Không phẩy bốn trăm bẩy mươi hai) gam ma túy Heroine(Heroin); mảnh nilon màu trắng. Đây là chất ma túy nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01(một) Căn cước công dân 010074005027 mang tên Vàng A C, cấp ngày 06/7/2022 là giấy tờ tuỳ thân của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp với điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với người đàn ông bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo ngày 04/5/2024 do chỉ có lời khai của bị cáo, ngoài ra không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh nhân thân, lai lịch cùa người đàn ông này nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Về án phí: Tại phiên tòa người bào chữa cung cấp đơn yêu cầu xin Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm của bị cáo và theo giấy chứng nhận hộ cận nghèo số 322/GCN-HN ngày 08/01/2024 của UBND xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xác nhận bị cáo thuộc hộ cận nghèo năm 2024, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bị cáo được miễn 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng A C 01(một) năm 04(bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/5/2024.

3.Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 0,472(Không phẩy bốn trăm bẩy mươi hai) gam ma túy Heroine (Heroin); mảnh nilon màu trắng và bì niêm phong ban đầu gửi giám định được tái niêm phong trong một bì thư in sẵn. Trên một mặt của bì niêm phong có ghi dòng chữ: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Vàng A C tại thôn Phan Cán Sử, xã Y Tý huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai ngày 05/5/2024”.

Trả lại cho bị cáo 01(một) căn cước công dân tên Vàng A C, số Căn cước công dân 010074005027 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 06/7/2022 (Vật chứng được thể hiện theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2024).

4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Vàng A C được miễn 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) tiền ứng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Lào Cai (1);

- TAND tỉnh Lào Cai (1);

- VKSND huyện Bát Xát (1);

- Cơ quan THAHSCABX (2);

- Cơ quan điều tra CA BX(2)

- Bị cáo (1);

- Chi cục THADS BX (1);

Nguyễn Thị Thuý Hằng

- HS THA HS (2);

- Sở TP tỉnh Lào Cai(2);

- Lưu văn phòng (1);

- Lưu hồ sơ (1). CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Hằng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ