vanban.org

Bản án 27/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 07/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Lê Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt Lê Văn V 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/9/2023. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Thanh T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn V - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Lê Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HS-ST
Ngày 07-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thu Hiền

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Thị Sơn

2. Bà Trần Thị Hậu

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn V; sinh ngày 07/7/1993 tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Khu phố N, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn G, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974; bị cáo chung sống như vợ chồng với bà Lê Thị Bích T1, sinh năm 1999 và có 01 con chung sinh năm 2022; tiền sự: Không; tiền án: Không;

Nhân thân: - Tại bản án số 92/2012/HSST ngày 12/9/2012 Lê Văn V bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ) xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản.

- Tại bản án số 144/2018/HSST ngày 25/10/2018 Lê Văn V bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

- Tại Bản án số 10/2019/HS-ST ngày 11/01/2019 Lê Văn V bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Tổng hợp với Bản sán số 144/2018/HSST ngày 25/10/2018 Bị cáo phải chấp hành tổng hình phạt 02 năm 03 tháng tù.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 21/9/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1988

Địa chỉ: Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974

Địa chỉ: Khu phố N, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn V là người nghiện ma túy tổng hợp và không có việc làm ổn định. Để có tiền mua ma túy sử dụng, V nảy sinh ý định đến cổng các Công ty thuộc Khu công nghiệp P thuộc khu phố V, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xin tiền của tài xế lái xe tải.

Khoảng 05 giờ 50 phút ngày 30/5/2023, V điều khiển xe mô tô BKS: 69D1-558.35 đi đến trước cổng Công ty T3 ở đường B, thuộc Khu công nghiệp P I thấy ông Nguyễn Thanh T2 và ông Nguyễn Văn Đ đang ngồi uống nước trên vỉa hè chờ đưa xe vào Công ty T3 lấy hàng. V đi đến gặp ông T2 và nói “cho xin mấy trăm nghìn” thì ông T2 không cho, V đến leo lên xe ô tô tải của ông Nguyễn Văn M đang đậu gần đó tìm lấy sắt phế liệu bán nhưng trên xe không có sắt, để tránh bị V làm phiền ông M bảo V xuống xe và lấy ra 200.000 đồng cho V. Sau đó, V quay lại chỗ ông T2 tiếp tục xin tiền thì giữa V và ông T2 xảy ra cãi vã, V lao vào đánh ông T2 thì ông T2 bỏ chạy, trong lúc bỏ chạy ông T2 đã rút chìa khóa xe mô tô của V và giữ lại để trình báo Công an. Bực tức việc ông T2 không cho tiền và không trả chìa khóa xe nên V đi bộ về phòng trọ lấy 01 con dao bấm bằng kim loại màu đen, dài 24cm, trên lưỡi dao có dòng chữ Rongyang k -860 và chạy xe mô tô hiệu Wave (không có biển kiểm soát) quay lại tìm đánh ông T2. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, V quay lại chỗ ông T2 và điều khiển xe mô tô đâm vào ông T2, thấy vậy ông T2 bỏ chạy, V xuống xe, tay phải cầm con dao bấm đuổi theo và đâm một nhát vào phía sau bên vai phải của ông T2 gây thương tích. Đâm ông T2 xong, V quay lại chỗ ông T2 ngồi lấy chìa khóa xe rồi điều khiển xe mô tô BKS: 69D1-558.35 đi về phòng trọ và nhờ một người đàn ông tên H (chữa rõ nhân thân, lai lịch) ở cùng dãy trọ cùng quay lại trước cổng công ty T3 để lấy xe của mẹ V mang về phòng trọ để. Còn ông T2 được đưa đi điều trị thương tích tại Bệnh viện C, thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 314/KLTTCT-PYBRVT ngày 01/8/2023 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh B, kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Kết quả khám giám định:

+ 03 sẹo nhỏ

+ Phẫu thuật dẫn lưu màng phổi phải (02 lần). Có giảm nhẹ âm phế bào và

rung thanh ở vùng đáy phổi phải.

- Kết quả cận lâm sàn: Tràn dịch màng phổi phải ít, dày dính màng phổi đáy phải.

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, Quy định t lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định t lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thanh T2 tại thời điểm giám định là: 18% (Mười tám phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Về đặc điểm vật gây ra thương tích, cơ chế hình thành thương tích: Thương tích trên được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật cứng sắc nhọn, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ sau ra trước.

- Về trách nhiệm dân sự: ông Nguyễn Thanh T2 không yêu cầu Lê Văn V bồi thường.

- Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô hiệu Suzuki, loại Satria, BKS: 69D1-558.35 và xe mô tô hiệu Wave (không có biển kiểm soát) là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị T (là mẹ V), V sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội bà T không biết. Cơ quan CSĐT Công an thị xã P không thu giữ xe mô tô Wave (không có biển kiểm soát). Riêng xe mô tô hiệu Suzuki, loại Satria, BKS: 69D1-558.35 sau khi thu giữ, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trả lại cho bà T tại quyết định xử lý vật chứng số 97/QĐ ngày 08/12/2023.

Đối với 01 con dao bấm bằng kim loại màu đen, dài 24cm, trên lưỡi dao có dòng chữ Rongyang k -860 là tang vật của vụ án đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản, chờ xử lý theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 16/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đã truy tố Lê Văn V về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Lê Văn V từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Thanh T2 không yêu cầu Lê Văn V bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hu 01 con dao bấm bằng kim loại màu đen, dài 24cm, trên lưỡi dao có dòng chữ Rongyang k -860 là hung khí V sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Tại phiên tòa, Lê Văn V không có ý kiến gì về bản luận tội của Kiểm sát viên; Bị cáo nói lời sau cùng xin được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: 1. Về tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong quá trình điều tra, truy tố; Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, các tài liệu, chứng cứ được thu thập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi cũng như quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. 2. Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội tại phiên tòa của Lê Văn V phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai của bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 06 giờ, ngày 30/5/2023 tại cổng Công ty T3, đường B, Khu công nghiệp P, thuộc khu phố V, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Lê Văn V mặc dù không quen biết và không có mâu thuẫn gì với ông Nguyễn Thanh T2 nhưng vì V xin tiền ông T2 không cho nên đã có hành vi dùng 01 con dao bấm bằng kim loại màu đen, dài 24cm, trên lưỡi dao có dòng chữ Rongyang k -860 đâm 01 nhát vào phía sau bên vai phải gây thương tích cho ông Nguyễn Thanh T2. Hậu quả ông Nguyễn Thanh T2 bị tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 18%. Do đó, hành vi của Lê Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

3. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân:

3.1. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Văn V phạm tội có tính chất côn đồ, tuy nhiên tình tiết này đã được áp dụng để định khung hình phạt đối với bị cáo theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do vậy không áp dụng điểm d Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để tăng nặng hình phạt đối với bị cáo.

3.2. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó cần áp dụng quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

. Về nhân thân: Bị cáo V có nhân thân xấu, trước đây đã nhiều lần bị kết án về hành vi vi phạm pháp luật.

. Về mức hình phạt: Hành vi phạm tội của Lê Văn V là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của ông T2, gây mất an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo là công dân đã trưởng thành, ý thức được hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, đối với bị cáo cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

5. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Thanh T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao bấm bằng kim loại màu đen, dài 24cm, trên lưỡi dao có dòng chữ Rongyang k -860 là hung khí V sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hu .

7. Về án phí: Lê Văn V phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Lê Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1. Áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Lê Văn V 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/9/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Thanh T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;

Tịch thu tiêu hu 01 (một) dao bấm bằng kim loại màu đen, trên lưỡi dao có dòng chữ “Rongyang K860”, chiều dài của dao khoảng 24cm (đã được niêm phong).

(Toàn bộ vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 49/BB-CCTHADS ngày 17/01/2024 giữa Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc Lê Văn V phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

4. Trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết công khai.

Cỡ chữ