- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Lâm Vĩnh H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2024/HS-PT Ngày : 13/3/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Xuân Hải.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Tuấn; Ông Nguyễn Văn Hiệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hằng là thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Hồ Kim Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2024 tại điểm cầu Trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 18/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Lâm Vĩnh H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 193/2023/HSST ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
Bị cáo có kháng cáo:
NGUYỄN LÂM VĨNH HÀO - Sinh năm 1998 tại Bình Định; Nơi ĐKHKTT: 01 P, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Chỗ ở: C T, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Lâm Nguyệt D; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/7/2023; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Nhân thân: Ngày 23/4/2020 bị Công an thành phố Q ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 109/QĐ-XPHC, phạt tiền 3.500.000 đồng về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản. Đã nộp xong ngày 24/4/2020.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Cho rằng Nguyễn Thành Đ nói xấu mình nên tối ngày 23/7/2021 Phan Minh T rủ Huỳnh Hữu T1 và Nguyễn Đình L mang theo hung khí đi tìm Đ để đánh. Khi đến nhà Trần Thanh S thì gặp Đ, S và Ngô Văn B đang nhậu tại đây. Ty định đánh Đ thì S, B can ngăn. Ty chửi bới, đòi đánh S, B và cả nhóm bạn bè của Đ ở xung quanh khu vực ngã ba Lê Hồng Phong - N thuộc khu phố B, phường T, thành phố Q (gọi tắt là nhóm “Chấn ba”) rồi đi về.
Đến khoảng 18h00’ ngày 24/7/2021, B, Đ, Võ Trường K, Nguyễn H2, Phạm Văn T2 đến nhậu tại nhà Trần Văn H3. Đ kể cho cả nhóm nghe sự việc T đòi đánh Đ. Đến khoảng 21h30, H2 gọi điện cho T hỏi vì sao đòi đánh Đ và T thách thức đòi đánh nhóm “Chấn ba” dẫn đến mâu thuẫn nên T và H2 hẹn hai nhóm đánh nhau. Sau đó, H2 rủ cả nhóm tập trung tại đầu hẻm B X, thành phố Q để chờ nhóm T đến đánh nhau thì mọi người đồng ý. Lúc này, Trường K5, H4, S, T2, H2 đi bộ và B lái xe AirBlade 77L1-784.31 (của Phạm Văn T2) ra đầu hẻm B X, thành phố Q. H2 mang theo 01 bao hung khí chứa 07 cây đao, mác để chờ nhóm T đến đánh nhau. Cả nhóm chờ được 05-10 phút thì di chuyển đến đầu hẻm B X, thành phố Q rồi tiếp tục chờ nhóm T đến. Riêng Đ sợ nên không tham gia đánh nhau mà bỏ về. Lúc sau, Lê Hữu H5 lái xe mô tô biển số 77D1-155.99 của anh Lê Hữu H6 (anh ruột H5), Nguyễn Nhật T3 lái xe Sirius biển số 77L1-299.43 chở Trần Trọng B1; Trương Huỳnh Anh Thuần lái xe S1 đỏ trắng (không rõ biển số) của T4; Phạm Minh T5 lái xe Vision biển số 77L1-810.92 chở Nguyễn Lâm Vĩnh H đi ngang, thấy nhóm H2 tụ tập chuẩn bị đi đánh nhau với nhóm Ty nên lần lượt tham gia. Nguyễn Bảo T6 (vợ của H5) đi ngang qua thấy H5 tụ tập nên hỏi chuyện thì biết H5 chuẩn bị tham gia đi đánh nhau. Trân khuyên H5 đi về nhưng không được.
Cùng lúc này, H2 gọi điện cho T thì T đang nhậu cùng L, T1 ở phòng trọ của V tại phường T, thành phố Q (Vương lúc này không có mặt ở phòng trọ). Sau khi thách thức H2 hẹn đến KP2, phường T để đánh nhau, T điện thoại gọi V về rồi rủ V, L và T1 cùng đi tìm đánh nhóm “Chấn ba”. Do ít người, T nhờ V gọi rủ thêm nên V rủ Nguyễn Anh T7 cùng tham gia. Sau đó, V thuê 01 xe ôtô Xpander, màu trắng, biển số 77A-136.68 (của anh Đặng Tuấn K1) để chở cả nhóm đi đánh nhau. T lấy 06 cây đao, 07 cây mác (05 cây là của V, 08 cây là của T gửi nhờ) tại phòng trọ nhà V rồi cả nhóm bỏ vào cốp xe Xpander. V lái xe chở T, L, T1, T7 đi đánh nhau với nhóm “Chấn ba”. T gọi điện kể với Huỳnh Hữu K2 rằng T sắp đi đánh nhóm “Chấn ba” để nhờ K2 bảo kê đánh nhau thì K2 không đồng ý và nói có bạn quen nhóm này nên muốn giúp hòa giải. Sau đó, K2 đi xe taxi đến gặp T để can ngăn. Trong khi nhóm T đang đi trên đường, H2 liên tục gọi điện cho T hối thúc đến xóm “Chấn ba” để đánh nhau. T gọi rủ thêm Nguyễn Thanh Â, Trần Nhược K3 cùng đi đánh nhóm “Chấn ba”. V lái xe chở cả nhóm đến Đường A đón thêm Âu, Nhược K3. Lúc này, Cao Văn D1, Hoàng Việt H7, Nguyễn Đình T8, Huỳnh Tuấn K4, Nguyễn Tấn T9 và 01 nam thanh niên (không rõ lai lịch) đang chơi ở đầu Đường A, biết nhóm T đi đánh nhau nên T7 K4 lái xe mô tô chở T9 và nam thanh niên, T8 lái xe AirBlade đen (không rõ biển số) chở D1, H7 chạy theo sau xe ôtô Xpander 77A-136.68 để xem đánh nhau. Lúc này, T gọi điện cho H2 hẹn đến Cầu Đ để đánh nhau thì H2 đồng ý. Nhóm T đi từ đường T đến đường P rồi rẽ sang Cầu đen tìm đánh nhóm “Chấn ba” nhưng không thấy ai nên quay lại đậu xe ở lề đường ngã ba đường P - B. K2 gọi điện thì biết nhóm T đang ở ngã ba đường P nên bảo taxi chở đến. Nhóm T xuống xe, chỉ còn V ngồi lại trên xe ôtô. D1, H7, T8, Tuấn K4, T9 và nam thanh niên nêu trên chở nhau đến đến tụ tập tại ngã ba đường P - N để xem đánh nhau.
Khi nghe T hẹn đến Cầu đen, tại đầu hẻm B X, TP , H2 hô hào, bảo đồng bọn kéo đến điểm hẹn để đánh nhau với nhóm T. Trường G biển số 77L1-784.31 cho B cầm lái chở H2 cầm 02 cây đao và H4 cầm 01 cây mác; H5 giao xe SH biển số 77D1-155.99 để S cầm lái chở H5, T2 K4 ngồi sau mỗi người cầm 01 cây mác; T3 lái xe Sirius biển số 77L1-299.43 chở B1 ngồi sau cầm 01 cây mác; T5 lái xe Vision biển số 77L1-810.92 chở Vĩnh H ngồi sau cầm 01 cây mác chạy đi trước. Riêng T2 không kịp leo lên các xe máy của đồng bọn nên chạy bộ về nhà chị Lê Thị Ánh H8 ở trong xóm để mượn xe Sirius biển số 77L1-723.95 (của chị H8) tham gia đi đánh nhau với nhóm T. Thuần lái xe Wave biển số 77L2-145.21 chở T6 đi về nhưng T6 không đồng ý nên đi theo nhóm H2 để khuyên H5 về. Khi đến Cầu Đ nhưng không thấy nhóm T nên nhóm H2 đi theo đường Đ rẽ sang đường P để về thì bắt gặp nhóm T đang chờ sẵn ở ngã ba P - B. Nhóm của H2 dựng xe tại ngã ba P - Đ, phía nhà dân. Thuần lái xe Wave biển số 77L2-145.21 chở T6 đến đứng trước nhà 163 Phan Đình P rồi quay lại nhập với nhóm của H2. Còn T2 điều khiển xe Sirius biển số 77L1-723.95 đi theo nhưng chưa kịp đến nơi. Khi đó, Phan Văn Đ1 lái xe mô tô chở Võ Văn H9, Nguyễn Gia M lái xe mô tô chở Lê Trần Anh N (không rõ lai lịch) và khoảng 30 người dân hiếu kỳ khác chở nhau trên khoảng 14 xe máy thấy 02 nhóm chuẩn bị đánh nhau nên cũng tụ tập đến xem.
Đến khoảng 23h35’ cùng ngày, thấy nhóm “Chấn ba” đến, nhóm T mở cốp xe ô tô Xpander lần lượt lấy mỗi người 01 cây hung khí (đao, mác) cầm trên tay nhưng K2 can ngăn, bảo cất hung khí nên tất cả cất hung khí lại vào cốp xe ôtô. Riêng T không nghe, vẫn cầm 01 cây mác. Hai nhóm tiến lại gần, đi ra giữa lòng đường Phan Đình P. K2 đi giữa hai nhóm, dang tay tay hô lớn “anh em quen hết, từ từ nói chuyện”. Lúc này, nhóm “Chấn ba” có H4, Trường K5, H2, H5, B, Vĩnh H, B1 cầm hung khí (đao, mác); nhóm T chỉ có T cầm mác. Ty và H4 hô hào, chửi bới lớn tiếng, thách thức đánh nhau. H4, Trường K, H2, B, H5 liền cầm hung khí xông đến đuổi chém T nên T vứt mác, quay lưng bỏ chạy dọc theo đường P, về hướng Lê Đức T10. Nhóm T cũng bỏ chạy tán loạn. H5 đuổi theo T được một đoạn thì dừng lại. H2, B, Trường K, H4 đuổi theo T đến đầu đường H thì T quay ngược lại, chạy trên vỉa hè nhà dân về hướng đường Đ. Khi T chạy đến trước nhà A P thì Bình đuổi kịp, cầm đao chém trúng tay phải T làm T ngã gục rồi tiếp tục chém Ty thêm 06 nhát. Tổng cộng B chém Ty 07 nhát. Ở nhát chém cuối cùng thì B chém trúng nền vỉa hè nên lưỡi đao bị bung, rơi lại tại hiện trường, chỉ còn phần cán đao. Cùng lúc này, Trường K5, H2 cũng cầm hung khí xông đến chém T 01 nhát. Âu, Nhược K3, T7, L thấy T bị đánh liền mở cốp xe ô tô Xpander, lấy mỗi người 01 cây hung khí (đao, mác) xông đến hò hét, đuổi chém nhóm “Chấn ba” để giải vây cho T. Nhược K3 vung mác chém trúng bắp chân trái của B nên B cầm cán đao bỏ chạy đến đường H rồi rẽ sang đường Ỷ, chạy đến Công viên Đ nấp và vứt phần cán đao xuống biển. D1, H7 (là bạn của T, Â, Nhược K3) không được ai rủ rê tham gia đánh nhau nhưng khi thấy T bị đánh thì cũng hùa theo, đến chỗ xe ô tô Xpander lấy mỗi người 01 cây mác tham gia hò hét, rượt đánh nhóm “Chấn ba”. Vĩnh Hào cầm 01 cây mác, thấy nhóm T đông nên không dám xông vào đánh. Thuần thấy nhóm mình bị đánh áp đảo nên bảo Vĩnh H đưa cây mác rồi cùng B1, H5, H2, Trường K, H4 cầm hung khí xông đến hò hét, rượt đánh lại nhóm T. Hóa cùng Nhược K3, D1, T7, L cầm hung khí chạy vào đường H tìm đánh B nhưng không đuổi kịp nên quay ra lại đường P. Hai nhóm hò hét rượt chém nhau qua lại một lúc thì H5 hô hào bảo đồng bọn đi về và chở nhau tẩu thoát về xóm “Chấn ba”. Khi về, S lái xe SH 77D1-155.99 chở H5, Trường K5 ngồi sau mỗi người cầm 01 cây mác; T4 lái xe AirBlade 77L1-784.31 đi một mình cầm 01 cây mác; Vĩnh H lái xe Wave 77L2-145.21 chở T6; T3 lái xe Sirius 77L1-299.43 chở B1 ngồi sau cầm 01 cây mác; T5 lái xe Vision 77L1-810.92 đi một mình; 01 thanh niên (không rõ lai lịch) lái xe AirBlade màu đen (không rõ biển số) chở H2 ngồi sau cầm 01 cây đao. H4 cầm 01 cây mác đi bộ về hướng ngã ba đường Đ - P thấy M đang lái xe xem đánh nhau ở gần đó nên nhờ M chở về xóm “Chấn ba”. Khi đi đến Cầu đen thì H2 vứt cây đao xuống nước. Lúc này, Trường L1 đi đến đường L (đoạn gần Nhà hàng T12) thì thấy đồng bọn đang chở nhau tẩu thoát nên quay xe cùng nhóm về lại xóm. Khi về xóm “Chấn ba”, Trường K5 đưa trả 01 cây mác cho H2. Sau đó, H2, H5, H4, T4 lần lượt vứt hung khí tại sân nhà 169/27/1 N, thành phố Q. B1 đưa cây mác cho 01 người trong nhóm đem vứt ở đầu hẻm B X, thành phố Q. Sau đó, S lái xe SH 77D1-155.99 chở H5 đến Công viên Đ tìm, đón B về xóm rồi cả nhóm giải tán. Sau đó, Phan Minh T được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B từ ngày 24/7/2021 đến ngày 31/7/2021 thì xuất viện. Ngày 02/8/2021, Phan Minh T có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Sau khi gây án, Nguyễn Lâm Vĩnh H đã bỏ trốn khỏi địa phương nên vào ngày 15/4/2023 cơ quan CSĐT Công an T ra Quyết định tách vụ án hình sự đối với Nguyễn Lâm Vĩnh H và ra Lệnh truy nã. Đến ngày 25/7/2023, Nguyễn Lâm Vĩnh H bị Đồn biên phòng cửa khẩu quốc tế M1 bắt giữ và bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an T theo quy định.
Theo kết luận giám định số 210 ngày 16/8/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh B xác định Phan Minh T bị các vết thương sau: Vết thương vùng trung đòn phải; Vết thương vùng cơ Delta phải; Vết thương 1/3 giữa cánh tay phải; Vết thương phức tạp hình vòng cung từ mặt sau đến mặt trước 1/3 giữa cánh tay phải lộ xương, gãy xương, đứt thần kinh quay, đứt cơ tam đầu; Vết thương lòng bàn chân phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Phan Minh T là 56%.
Bản án hình sự sơ thẩm số 193/2023/HSST ngày 19 ngày 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lâm Vĩnh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lâm Vĩnh H 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 25/7/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Ngày 27/12/2023, bị cáo Nguyễn Lâm Vĩnh H kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa quyết định của bản án sơ thẩm, áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Lâm Vĩnh H 04 năm 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Mặc dù không ai rủ đi đánh nhau từ trước nhưng vào ngày 24/7/2021 khi thấy nhóm Võ Trường K chuẩn bị đao, mác để đi đánh nhau với nhóm Phan Minh T, bị cáo Nguyễn Lâm Vĩnh H đã tự nguyện tham gia, khi đi bị cáo mang theo hung khí là mác đi cùng đồng bọn đến đường P hỗ trợ giúp sức cho các bị cáo Võ Trường K, Nguyễn H2, Ngô Văn B gây thương tích cho bị hại Phan Minh T 56%.
. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Lâm Vĩnh H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Lâm Vĩnh H cầm hung khí là cây mác ngồi sau xe do Phạm Minh T5 điều khiển để tham gia đánh nhau. Tuy bị cáo không phải là người trực tiếp gây thương tích cho bị hại Phan Minh T nhưng bị cáo là đồng phạm giúp sức tích cực, hô hào, cổ vũ tinh thần cho đồng bọn tham gia đánh nhau gây thương tích cho bị hại 56% nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo Nguyễn Lâm Vĩnh H phạm tội với tình tiết định khung “Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này” được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
[2.2]. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ: Thật thà khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Lâm Vĩnh H 05 năm tù là phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Hơn nữa, bị cáo có nhân thân xấu đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Sau khi phạm tội bị cáo đã có hành vi bỏ trốn vào thành phố Hồ Chí Minh và C gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng. Sau đó, bị cáo bị bắt theo lệnh truy nã về hành vi này.
Sau khi xét xử sơ thẩm, kèm theo đơn kháng cáo bị cáo Nguyễn Lâm Vĩnh H đã cung cấp tài liệu, chứng cứ mới gồm: Huân chương kháng chiến hạng ba và Huy chương hạng nhì vì có thành tích xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của ông Nguyễn Đ2 (là ông nội của bị cáo). Đây là tình tiết mới phát sinh sau khi xét xử sơ thẩm nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo H được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt là 5 năm tù là phù hợp với tính chất, hành vi do bị cáo gây ra. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Ngoài ra, đối với hành vi của các bị cáo Nguyễn H2, Trần H10, Võ Trường K, Ngô Văn B, Trần Thanh S, Lê Hữu H5, Phạm Văn T2, Trương Huỳnh Anh T11, Trần Trọng B1, Nguyễn Nhật T3, Phạm Minh T5; Phan Minh T, Nguyễn Đình L, Huỳnh Hữu T1, Nguyễn Quốc V1, Nguyễn Thanh Â, Trần Nhược K3, Nguyễn Anh T7, Cao Văn D1, Hoàng Việt H7 đã được Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xét xử xong tại Bản án số 06/2023/HSST ngày 12/01/2023.
. Về án phí: Theo điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Lâm Vĩnh H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định: Đề nghị của Kiểm sát viên không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự 2015.
Điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Lâm Vĩnh H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 193/2023/HSST ngày 19/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lâm Vĩnh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lâm Vĩnh H 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/7/2023.
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Lâm Vĩnh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.1 TANDTC - VKSND tỉnh Bình Định - Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Định - TA, VKS, CQĐT Công an thành phố Q - Cơ quan THAHS Công an thành phố Q - Chi cục THADS thành phố Q - Cơ quan HSNV Công an tỉnh Bình Định - Sở tư pháp tỉnh Bình Định - Những người tham gia tố tụng - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Lê Xuân Hải |