vanban.org

Bản án 27/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Mai A - Nguyễn Thành B"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST
Ngày 29 tháng 3 năm 2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Liêu Tài Ngoánh

Ông Huỳnh Tài Em

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

H, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên

tòa: Ông Văn Hữu Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ

thẩm công khai vụ án thụ lý số: 432/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXX-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Mai A - sinh năm 1992;

Địa chỉ: Ấp 16, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thành B - sinh năm 1991;

Địa chỉ: Ấp 16, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị Mai A có đơn xin xét xử vắng mặt; anh B vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/12/2023 và các lời khai trong quá trình tố

tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Nguyễn Mai A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh B tự nguyện chung sống với nhau như vợ

chồng từ năm 2015 tại ấp 16, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 06/4/2015. Thời gian đầu vợ chồng sống chung hạnh phúc đến năm 2022, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp tính tình. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn. Nay chị Mai A yêu cầu ly hôn với anh B.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thành N, sinh ngày 28/5/2019

và Nguyễn Ngọc Thụy N1, sinh ngày 08/6/2021 hiện cháu N và cháu N1 đang sống với chị Mai A. Sau khi ly hôn chị Mai A yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con chung, về cấp dưỡng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Thành B, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống

đạt các văn bản tố tụng cho anh B theo quy định, nhưng anh B không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu của nguyên đơn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng cho anh B; anh B cũng không có mặt tham gia tố tụng tại Tòa trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án; anh B đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ nhưng không có mặt tại Tòa án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ

án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Xét thấy, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của

chị Nguyễn Mai A, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Mai A đối với anh B. Về con chung, đề nghị giao 02 con chung tên Nguyễn Thành N, sinh ngày 28/5/2019 và Nguyễn Ngọc Thụy N1, sinh ngày 08/6/2021 cho chị Mai A tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, về cấp dưỡng tự thỏa thuận nên không đặt ra giải quyết; Về tài sản chung và nợ chung không có và không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem

xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận:

Về tố tụng:

Chị Mai A yêu cầu ly hôn với anh B, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân

và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh B cư trú tại xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân huyện H thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Mai A có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt, anh B đã được Tòa án triệu

tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Mai A, anh B.

Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai A và anh B tự nguyện chung sống với

nhau như vợ chồng vào năm năm 2015 tại Ấp 16, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 06/4/2015 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Theo chị Mai A, nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do không

hợp lối sống, bất đồng quan điểm, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn từ năm 2022 đến nay, nay chị Mai A xác định không còn tình cảm với anh B nữa nên cương quyết yêu cầu ly hôn. Tòa án đã tống đạt trực tiếp thông báo thụ lý vụ án cho anh B nhưng anh B không quan tâm, quá trình giải quyết vụ án anh B không lần nào đến Tòa án làm việc và không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị Mai A. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm, yêu thương, tôn trọng lẫn nhau và cùng nhau chăm sóc gia đình nhưng nay chị Mai A cương quyết xin ly hôn với anh B mà anh B không có thiện chí hòa giải cũng không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ sự mâu thuẫn, rạn nứt trong quan hệ hôn nhân của anh chị không có khả năng hàn gắn lại được. Mặt khác, hôn nhân được duy trì bền vững lâu dài và hạnh phúc là trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên, chị Mai A yêu cầu được ly hôn và xác định không thể tiếp tục chung sống với anh B thì việc chung sống không được tự nguyện cũng sẽ dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Mai A, cho chị Mai A được ly hôn với anh B.

[2] Về con chung: Chị Mai A và anh B quá trình chung sống có 02 con

chung tên Nguyễn Thành N, sinh ngày 28/5/2019 và Nguyễn Ngọc Thụy N1, sinh ngày 08/6/2021 hiện cháu N và cháu N1 đang sống với chị Mai A. Ngoài ra, chị Mai A và anh B không còn con chung nào khác. Sau khi ly hôn chị Mai A yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con chung, về cấp dưỡng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hội đồng xét xử xét thấy, cháu N và cháu N1 chưa đủ 07 tuổi, hiện nay cháu

N và cháu N1 đang sống cùng chị Mai A. Chị Mai A yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cả cháu N và cháu N1, anh B không có ý kiến gì về vấn đề này. Do đó để đảm bảo sự ổn định và phát triển về mặt tâm sinh lý, cũng như sinh hoạt và học tập hàng ngày của các cháu, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Mai A giao cháu N và cháu N1 cho chị Mai A tiếp tục nuôi dưỡng theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị Mai A, giao

cháu Nguyễn Thành N, sinh ngày 28/5/2019 và Nguyễn Ngọc Thụy N1, sinh ngày 08/6/2021 cho chị Mai A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh B có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được quyền cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Mai A xác định không có, không yêu

cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Mai A

phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Từ các phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp

nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm b,

khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và

Gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị

Nguyễn Mai A đối với anh Nguyễn Thành B. Xử cho chị Nguyễn Mai A được ly hôn với anh Nguyễn Thành B.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thành N, sinh ngày 28/5/2019 và

Nguyễn Ngọc Thụy N1, sinh ngày 08/6/2021 cho chị Nguyễn Mai A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh Nguyễn Thành B có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra

xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra

xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Mai A phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân và gia

đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị Mai A đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005151 ngày 18/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H được chuyển thu án phí.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi

hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản

án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai./.

Cỡ chữ