- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mỹ X.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2024/HNGĐ - ST Ngày: 11 - 9 - 2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ – TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Thanh Xuân
Ông Đặng Lễ Nghi
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thân - Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 09/2024/TLST - HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2024, về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 48/2024/QĐST - HNGĐ, ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mỹ X, sinh năm 1990 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1985 (Vắng mặt không có lý do)
Địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện K, tỉnh Trà Vinh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ X trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Bà X và ông K chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân An, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Quá trình chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Đăng S, sinh ngày 18/9/2011 hiện nay bà X nuôi dưỡng. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, ông K không quan tâm chăm sóc gia đình, chung sống với nhau không có hạnh phúc nên không còn sống chung với nhau từ năm 2017 đến nay.
Nay bà X yêu cầu ly hôn với ông K. Về con chung: Bà X yêu cầu nuôi con chung tên Nguyễn Đăng S và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Bà X không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Bà X khai bà X và ông K không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn K mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để thông báo và triệu tập ông Nguyễn Văn K tham gia tố tụng nhưng ông Nguyễn Văn K không có mặt cũng không có lời khai cung cấp cho Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mỹ X, cho bà Lê Thị Mỹ X ly hôn với ông Nguyễn Văn K. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Đăng S, sinh ngày 18/9/2011 cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về nợ chung: Không có nên không xem xét. Về án phí: Buộc bà Lê Thị Mỹ X chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và bị đơn cư trú tại Ấp X, xã H, huyện K, tỉnh Trà Vinh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ X có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn K, sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Văn K theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, ông K đã biết Tòa án đang thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà X và Tòa án triệu tập ông K đến Tòa tham gia tố tụng, tham gia phiên tòa nhưng ông K vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà X và ông K.
Về hôn nhân: Bà X và ông K kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân An, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh vào năm 2010. Căn cứ Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, việc xác lập quan hệ vợ chồng của bà X và ông K được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Mỹ X: Bà X và ông K chung sống với nhau vào năm 2010, nguyên nhân mâu thuẫn là bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, chung sống với nhau không có hạnh phúc nên bà X yêu cầu ly hôn với ông K. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông K 02 lần. Nhằm để hòa giải, tạo điều kiện cho bà X và ông K hàn gắn nhưng ông K đều vắng mặt không có lý do. Như vậy, ông K đã không có thiện chí hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà X. Đồng thời, theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà X cũng xác định không còn tình nghĩa vợ chồng với ông K. Căn cứ theo Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu,…, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống bà X và ông K do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi nên không còn sống chung từ năm 2017 cho đến nay và hiện nay cũng không có biện pháp hàn tình cảm vợ chồng. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà X và ông K đã xảy ra trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà bà X, cho bà X ly hôn với ông K là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Về con chung: Nguyễn Đăng S có nguyện vọng sống với bà X và bà X yêu cầu được nuôi con chung tên Nguyễn Đăng S. Xét thấy, từ trước đến nay Nguyễn Đăng S do bà X trực tiếp nuôi dưỡng và bà X vẫn đảm bảo việc nuôi con tốt nên giao Nguyễn Đăng S cho bà X tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Tòa án đã giải thích việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật nhưng bà X không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con tên Nguyễn Đăng S nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Bà X không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Bà X khai không có nợ chung, không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà X phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quan điểm về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 177, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 9, 19, 51, 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mỹ X.
Về hôn nhân: Cho bà Lê Thị Mỹ X ly hôn với ông Nguyễn Văn K.
Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Đăng S, sinh ngày 18/9/2011 cho bà Lê Thị Mỹ X trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị Mỹ X không yêu cầu ông Nguyễn Văn K cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Đăng S, sinh ngày 18/9/2011 nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì quyền lợi của trẻ chưa thành niên, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ, cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Toà án có thể xem xét quyết định việc hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Lê Thị Mỹ X không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Bà Lê Thị Mỹ X khai không có nợ chung, không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị Mỹ X phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0000788, ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cầu Kè. Bà Lê Thị Mỹ X đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ X và bị đơn ông Nguyễn Văn K vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án; theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Cầu Kè; - Chi cục THADS huyện Cầu Kè; - Đương sự; - UBND xã Thông Hòa, huyện Cầu Kè; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Yến Nhi |