- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "N-C"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu của Chị Lý Hồng N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST Ngày 19/01/2024 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Đặng Thị Thảo Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Trung Thành
Bà Âu Thị Ngọc Hoa
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Công Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Trong ngày 19 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 560/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa 172/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lý Hồng N, sinh năm 1999 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp 6, xã L, huyện B, tỉnh L.
Bị đơn: Anh Nguyễn Minh C, sinh năm 1996 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 11/9/2023, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Chị Lý Hồng N trình bày: Sau thời gian tìm hiểu và được sự đồng ý của hai bên gia đình nên chị và anh Nguyễn Minh C tiến tới hôn nhân 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, giấy chứng nhận kết hôn số 27/2020, ngày 11/5/2020. Sau khi cưới vợ chồng chung sống không hạnh phúc, do tính tình không hợp nhau, thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên không thể tiếp tục chung sống. Do không còn tình cảm, hôn nhân không hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh C.
Con chung: Anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Minh N, sinh ngày 18/5/2022, chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung và nợ chung: Không có.
Bị đơn anh Nguyễn Minh C đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì về yêu cầu ly hôn, nuôi con của chị N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị N có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn và nuôi con, nên đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do bị đơn có hộ khẩu thường trú tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh C đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn, nuôi con. Chị N cũng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt chị N, anh C theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Chị N và anh C xác lập quan hệ hôn nhân năm 2019 trên cơ sở tự nguyện, anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, giấy chứng nhận kết hôn số 27/2020, ngày 11/5/2020 nên là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân chị N yêu cầu ly hôn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên không thể tiếp tục chung sống. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án chị N cương quyết ly hôn, vì vợ chồng không còn tình cảm, hôn nhân không hạnh phúc, còn anh C đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn và nuôi con của chị N, điều này chứng tỏ anh C cũng không muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng, do đó yêu cầu ly hôn của chị N là có cơ sở chấp nhận.
Con chung: Anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Minh N, sinh ngày 18/5/2022, chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ khi vợ chồng sống ly thân thì chị N là người trực tiếp nuôi con ổn định đến nay, tại đơn xác nhận điều kiện nuôi con ngày 27/11/2023 thì chị N có công việc và thu nhập ổn định để nuôi con. Hơn nữa, hiện tại cháu Nhựt còn nhỏ vẫn cần sự chăm sóc của mẹ nhiều hơn, anh C cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con của chị N nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nhựt cho chị N trực tiếp nuôi là đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của cháu. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu.
Tài sản chung và nợ chung: Chị N trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị N phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: Chị N và anh C được quyền kháng cáo theo qui định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự,
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu của Chị Lý Hồng N.
1. Quan hệ hôn nhân: Cho Chị Lý Hồng N được ly hôn với anh Nguyễn Minh C.
2. Con chung: Giao con chung tên Nguyễn Minh N, sinh ngày 18/5/2022 cho Chị Lý Hồng N trực tiếp nuôi, anh Nguyễn Minh C không phải cấp dưỡng nuôi con do Chị Lý Hồng N không yêu cầu.
Anh Nguyễn Minh C có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.
3. Án phí: Chị Lý Hồng N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012985 ngày 09 tháng 10 năm 2023, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, Chị Lý Hồng N đã thi hành xong phần án phí.
4. Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnhTiền Giang; - VKSND Cái Bè; - CCTHADS Cái Bè; - UBND xã Hòa Hưng, H. Cái Bè; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |