vanban.org

Bản án 27/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tăng Thị Xuân M. Chị Tăng Thị Xuân M được ly hôn với anh Kim Văn M1.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 112, đăng ký ngày 09/12/2019 của Ủy ban nhân dân xã Đak Nhau, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước không còn hiệu lực khi Bản án hôn nhân gia đình về việc ly hôn của anh chị có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Giao cháu Kim Thành Đ sinh ngày 30/6/2019 cho chị Tăng Thị X… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tăng Thị Xuân M. Chị Tăng Thị Xuân M được ly hôn với anh Kim Văn M1.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐĂNG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HNGĐ – ST
Ngày: 12 - 4 -2024
V/v "Ly hôn".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Đức Hòa và bà Trần Thị Chín.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn M1 Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: bà Trịnh Thị Tâm – Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 217/2023/TLST- HNGĐ, ngày 02 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXX - ST ngày 05 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Tăng Thị Xuân M, sinh năm: 2000

Nơi cư trú: Thôn 1, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

- Bị đơn: anh Kim Văn M1, sinh năm 1994

Nơi cư trú: Thôn 1, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

(Đương sự vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 10/10/2023 và trong quá trình thụ lý vụ án, nguyên đơn chị Tăng Thị Xuân M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Kim Văn M1 chung sống với nhau từ năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đak Nhau, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước theo giấy đăng ký kết hôn số 112, ngày 09/12/2019. Trong thời gian chung sống vợ chồng anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh M1 không lo làm ăn, có quan hệ ngoại tình. Do mâu thuẫn nên chị và anh M1 đã sống ly thân từ tháng 6/2023 đến nay. Nay chị thấy mục đích hôn nhân không Đ được, không thể kéo dài hôn nhân thêm được nữa. Vì vậy, chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng giải quyết cho chị được ly hôn với anh Kim Văn M1.

Về con chung: Chị và anh M1 có một người con chung, họ tên là Kim Thành Đ, sinh ngày 30/06/2020. Nguyện vọng của chị M sau khi ly hôn là được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến khi con đủ 18 tuổi và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Kim Văn M1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng: Về tố tụng: Thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị M được ly hôn với anh Kim Văn M1; về con chung: Giao con chung là cháu Kim Thành Đ, sinh ngày 30/06/2020 cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Theo đơn khởi kiện của chị Tăng Thị Xuân M yêu cầu được ly hôn với anh Kim Văn M1 có nơi cư trú tại thôn 1, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Chị M và anh M1 chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn. Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Nguyên đơn chị M xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và xét xử. Bị đơn anh M1 đã được tống Đ niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

Xét về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tăng Thị Xuân M yêu cầu ly hôn với anh Kim Văn M1, Hội đồng xét xử xét thấy:

Chị M và anh M1 chung sống có đăng ký kết hôn ngày 09/12/2019 tại UBND xã Đak Nhau, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước theo quy định pháp luật. Trong thời gian chung sống do vợ chồng không có sự hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, chị và anh M1 đã sống ly thân một khoảng thời gian. Trong thời gian sống ly thân chị M và anh M1 không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, dẫn đến hôn nhân không Đ được mục đích. Như vậy, chị M và anh M1 đã có sự vi phạm về nghĩa vụ của người vợ, người chồng đối với nhau; cụ thể: không còn sự thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, chung sống với nhau. Đối chiếu với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xét thấy hôn nhân giữa chị M và anh M1 lâm vào tình trạng trầm trọng, hôn nhân không Đ được mục đích, nay chị M yêu cầu ly hôn với anh M1. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Về con chung: Chị M và anh M1 có một người con chung, họ tên là Kim Thành Đ, sinh ngày 30/6/2020. Tại biên bản lời khai chị M có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Kim Thành Đ, mặt khác hiện nay cháu Đ còn nhỏ cần có sự chăm sóc chu đáo của người mẹ. Vì vậy, cần giao cháu Kim Thành Đ cho chị Tăng Thị Xuân M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản và nợ chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Đương sự phải chịu theo luật định.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tại phiên tòa là phù hợp với quy định pháp luật và cùng với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56; Điều 81,82,83,84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 28; Điều 35;Điều 147; Điều 131 Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.

1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tăng Thị Xuân M. Chị Tăng Thị Xuân M được ly hôn với anh Kim Văn M1.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 112, đăng ký ngày 09/12/2019 của Ủy ban nhân dân xã Đak Nhau, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước không còn hiệu lực khi Bản án hôn nhân gia đình về việc ly hôn của anh chị có hiệu lực pháp luật.

2.Về con chung: Giao cháu Kim Thành Đ sinh ngày 30/6/2019 cho chị Tăng Thị Xuân M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom hoặc cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

3.Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

4.Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

5.Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn chị Tăng Thị Xuân M phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp trước là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001323, ngày 02/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Nơi Nhận:

Cỡ chữ