vanban.org

Bản án 27/2024/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ông D D và Bà H Thi Q Tr về việc tranh chấp xác định cha, mẹ cho con đối với bị đơn Ông H V M và Bà Ng Th H M.

Xác định Ông D D là cha ruột của cháu H Tr A, sinh ngày: 18/03/2018 và Bà H Thi Q Tr là mẹ ruột của cháu H Tr A, sinh ngày: 18/03/2018. Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan chức năng có thẩm quyền để điều chỉnh hoặc xin cấp lại giấy khai sinh và các giấy tờ khác có liên quan đến nhân thân của… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Danh Dào - My"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ông D D và Bà H Thi Q Tr về việc tranh chấp xác định cha, mẹ cho con đối với bị đơn Ông H V M và Bà Ng Th H M.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC HÓA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26-12-2024
V/v “Tranh chấp xác định cha,
mẹ cho con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC HÓA-TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khởi.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lý Quốc Trưởng.

2. Ông Võ Ngọc Bột.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa.

Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 91/2024/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp xác định cha, mẹ cho con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông D D, sinh năm: 1995 và Bà H Thi Q Tr, sinh năm 2000; Địa chỉ: Ấp 4, xã Tân Lập, huyện Mộc Hoá, tỉnh Long An.

Bị đơn: Bà Ng Th H M, sinh năm 1996 và Ông H V M, sinh năm 1993; Địa chỉ: Ấp 4, xã Tân Lập, huyện Mộc Hoá, tỉnh Long An.

(Ông D, Bá Tr có mặt, Ông M, bà Mơ vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình xét xử nguyên đơn trình bày:

Chúng tôi là cha mẹ ruột của cháu H Tr A, sinh ngày: 18/03/2018. Nhưng trước đây do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên vợ chồng chúng tôi phải đi làm ăn xa và thiếu sự hiểu biết pháp luật nên đã nhờ bà Mơ, Ông M là họ hàng đi làm thủ tục khai sinh cho cháu H Tr A.

Sau này chúng tôi phát hiện thông tin cha mẹ trên giấy khai sinh của cháuTr A không đúng, bởi vì chúng tôi (D D và H Th Q Tr ) mới là cha mẹ ruột của cháuTr A nhưng thông tin mục cha mẹ trên giấy khai sinh của cháuTr A lại là Ông H V M và Bà Ng Th H M.

Chúng tôi có nói chuyện với vợ chồng bà Mơ, Ông M đến Ủy ban nhân dân xã Tân Thành để làm thủ tục nhận lại cha mẹ cho cháu Trâm theo đúng với thực tế nhưng bà Mơ, Ông M không đồng ý ký giấy tờ cho nên không thể thực hiện được.

Do đó, nay chúng tôi làm đơn này gửi đến Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa với yêu cầu xác định Ông D D và Bà H Thi Q Tr là cha mẹ ruột cho cháu H Tr A, sinh ngày: 18/03/2018.

Bị đơn, Ông H V M và Bà Ng Th H M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự đến để tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và triệu tập đến phiên tòa xét xử nhưng Ông M và bà Mơ vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không nộp văn bản thể hiện ý kiến cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Thẩm quyền của Tòa án và quan hệ pháp luật tranh chấp:

Căn cứ vào nơi cư trú và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, xét vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An và quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp xác định cha, mẹ cho con căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 các Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của đương sự: Xét thấy Ông H V M và Bà Ng Th H M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai theo quy định nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Ông M và bà Mơ theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn trước đây do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên vợ chồng ông bà phải đi làm ăn xa và thiếu sự hiểu biết pháp luật nên đã nhờ bà Mơ, Ông M là họ hàng đi làm thủ tục khai sinh cho cháu H Tr A. Sau này ông bà mới phát hiện theo giấy khai sinh số 20 ngày 26/3/2018 do Uỷ ban nhân dân xã Tân Thành, huyện Mộc Hoá, tỉnh Long An cấp cho cháu H Tr A, sinh ngày 18/3/2018 thì họ tên mẹ là Ng Thi H M, sinh năm 1996 và họ tên cha là H V M , sinh năm 1993. Ông D và Bá Tr có liên hệ với vợ chồng bà Mơ, Ông M đến Ủy ban nhân dân xã Tân Thành để làm thủ tục nhận lại cha mẹ cho cháu Tr theo đúng với thực tế nhưng bà Mơ, Ông M không đồng ý ký giấy tờ cho nên không thể thực hiện được.

Căn cứ phiếu kết quả phân tích DNA ngày 20/8/2024 của Công ty TNHH Apollo Biotek đã kết luận Ông D D và Bà H Thi Q Tr có quan hệ huyết thống với H Tr A là cha ruột và mẹ ruột.

Trong quá trình tòa án giải quyết vụ án bị đơn đã được Tòa án thông báo đầy đủ về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn không có ý kiến và không có yêu cầu phản tố đối với yêu cầu của nguyên đơn, căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, ....bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.

Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở khẳng định Ông D D là cha ruột của cháu H Tr A, sinh ngày: 18/03/2018 và Bà H Thi Q Tr là mẹ ruột của cháu H Tr A, sinh ngày: 18/03/2018. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông H V M và Bà Ng Th H M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự số năm 2015;

Căn cứ các Điều 89, 91, 101, 102 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ông D D và Bà H Thi Q Tr về việc tranh chấp xác định cha, mẹ cho con đối với bị đơn Ông H V M và Bà Ng Th H M.

Xác định Ông D D là cha ruột của cháu H Tr A, sinh ngày: 18/03/2018 và Bà H Thi Q Tr là mẹ ruột của cháu H Tr A, sinh ngày: 18/03/2018.

Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan chức năng có thẩm quyền để điều chỉnh hoặc xin cấp lại giấy khai sinh và các giấy tờ khác có liên quan đến nhân thân của cháu H Tr A.

2. Về án phí: Ông H V M và Bà Ng Th H M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Ông D D và Bà H Thi Q Tr không phải chịu án phí. Hoàn lại cho Ông D và Bá Tr tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0002883 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ