- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Xác định cha cho con Phàn A và chị Tẩn Mùi L"
- Tòa quyết gì? Về xác định cha cho con: Anh Phàn A là cha đẻ của cháu Phàn Bảo L sinh ngày 02/04/2024 và cháu Phàn Bảo V sinh ngày 02/04/2024.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST Ngày 25/7/2024 V/v “Xác định cha cho con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phàng Thị Cở;
2. Bà Trần Thị Trúc;
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Lý – Thư ký Toà án nhân dân huyện B.
Ngày 25 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, Tòa án nhân dân huyện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 47/2024/TLST - HNGĐ ngày 27/05/2024 về việc kiện “Xác định cha cho con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/07/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Phàn A , sinh năm 1989
Địa chỉ: thôn N, xã C, huyện B ,tỉnh Lào Cai. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Chị Tẩn Mùi L, sinh năm 1992
Địa chỉ: thôn S, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Phàn A : Bà Nguyễn Thị Hương Thủy – Trợ giúp viên pháp lý của trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Phàn A trình bày: Anh Phàn A và chị Tẩn Mùi L có thời gian tìm hiểu yêu đương vào năm 2022 lúc đó Tẩn Mùi L vẫn đang có chồng là anh Lò A. Trong thời gian qua lại với nhau thì đến tháng 07/2023 chị Tẩn Mùi L đã mang thai con của anh Phàn A đến ngày 02/04/2024 chị Tẩn Mùi L đã sinh đôi được 02 người con, tại thời điểm đó chị Tẩn Mùi L và anh Lò A chưa ly hôn vì vậy chị Tẩn Mùi L không có đủ căn cứ để làm giấy khai sinh cho hai cháu theo họ của anh Phàn A . Anh Phàn A xác định hai cháu là con đẻ của anh Phàn A nên anh Phàn A đã đến, chăm sóc và tạm đặt tên cho hai con là Phàn Bảo L và Phàn Bảo V. Anh Phàn A đã lấy mẫu niêm mạc miệng của cháu Phàn Bảo L và Phàn Bảo V gửi về Công ty cổ phần công nghệ gen ứng dụng Việt Nam để xét nghiệm huyết thống với hai cháu Phàn Bảo L và Phàn Bảo V. Tại kết quả xét nghiệm AND số: 240516.58.1 và số: 240516.58.2 ngày 16/05/2024 của Công ty cổ phần công nghệ gen ứng dụng Việt Nam kết luận: Phàn A có quan hệ huyết thống Cha – Con với Phàn Bảo V và Phàn Bảo L với xác suất 99.9999%.
Để đảm bảo quyền của người cha và cũng đồng thời đảm bảo quyền lợi cho con chung, anh Phàn A đề nghị Tòa án nhân dân huyện B xác định anh Phàn A là cha đẻ của cháu Phàn Bảo L sinh ngày 02/04/2024 và cháu Phàn Bảo V sinh ngày 02/04/2024 và tuyên quyền cho anh Phàn A được thăm nom, chăm sóc cháu Phàn Bảo L và cháu Phàn Bảo V theo quy định của pháp luật.
Về chi phí giám định: Anh Phàn A đã tự chi phí giám định không yêu cầu chị Tẩn Mùi L phải chịu tiền chi phí giám định. Vì vậy anh Phàn A không yêu cầu Tòa án giải quyết về chi phí giám định trong vụ án này.
Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Tẩn Mùi L trình bày như sau: Chị Tẩn Mùi L và anh Phàn A có quen biết và yêu nhau vào khoảng năm 2022 lúc đó chị Tẩn Mùi L vẫn có chồng là anh Lò A, nhưng tại thời điểm chị Tẩn Mùi L tìm hiểu yêu thương anh Phàn A thì chị đang sống ly thân với anh Lò A không ai quan tâm đến ai cả về tình cảm cũng như kinh tế, đến tháng 07/2023 chị Tẩn Mùi L đã mang thai con của anh Phàn A đến ngày 02/04/2024 chị Tẩn Mùi L đã sinh đôi được 02 người con. Đầu năm 2024 chị Tẩn Mùi L làm đơn xin ly hôn với anh Lò A, tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số: 14 ngày 24/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai đã giải quyết cho chị Tẩn Mùi L và anh Lò A được ly hôn. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tẩn Mùi L nhất trí, chị Tẩn Mùi L cũng xác định anh Phàn A là cha đẻ của cháu Phàn Bảo L sinh ngày 02/04/2024 và cháu Phàn Bảo V sinh ngày 02/04/2024. Chị Tẩn Mùi L cũng nhất trí với kết luận giám định AND của Công ty cổ phần công nghệ gen ứng dụng Việt Nam.
Về việc thăm nom, chăm sóc Phàn Bảo L sinh ngày 02/04/2024 và cháu Phàn Bảo V sinh ngày 02/04/2024 chị Tẩn Mùi L nhất trí.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tại bản tự khai và đơn đề nghị anh Lò A đều khẳng định anh Lò A và chị Tẩn Mùi L đã sống ly thân từ năm 2021 không có quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế, mỗi người sống một nơi. Đến tháng 4 năm 2024 thì chị Tẩn Mùi L có làm đơn xin ly hôn với anh Lò A tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 14 ngày 24/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai đã giải quyết cho chị Tẩn Mùi L và anh Lò A được ly hôn. Vì vậy ngày 02/04/2024 chị Tẩn Mùi L có sinh đôi được hai người con anh Lò A khẳng định hai người con này không phải con của anh Lò A.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn, bị đơn đã thống nhất thỏa thuận được về việc thăm, chăm sóc con chung, nhưng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lò A không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và có đơn từ chối tham gia tố tụng vì vậy Toà án đã đưa vụ án ra xét xử nhưng không triệu tập anh Lò A tham gia với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Tại phiên tòa nguyên đơn anh Phàn A , bị đơn chị Tẩn Mùi L vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, tại đơn xin xét xử vắng mặt anh Phàn A giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Phàn A : Bà Nguyễn Thị Hương Thủy lời trình bày: Anh Phàn A và chị Tẩn Mùi L có thời gian tìm hiểu yêu đương vào năm 2022 lúc đó Tẩn Mùi L vẫn đang có chồng là anh Lò A. Trong thời gian qua lại với nhau thì đến tháng 07/2023 chị Tẩn Mùi L đã mang thai con của anh Phàn A đến ngày 02/04/2024 chị Tẩn Mùi L đã sinh đôi được 02 người con. Anh Phàn A xác định hai cháu là con đẻ của anh Phàn A nên anh Phàn A đã đến, chăm sóc và tạm đặt tên cho hai con là Phàn Bảo L và Phàn Bảo V sau đó anh Phàn A đã lấy mẫu niêm mạc miệng của cháu Phàn Bảo L và Phàn Bảo V gửi về Công ty cổ phần công nghệ gen ứng dụng Việt Nam để xét nghiệm huyết thống với hai cháu Phàn Bảo L và Phàn Bảo V. Tại kết quả xét nghiệm AND số: 240516.58.1 và số: 240516.58.2 ngày 16/05/2024 của Công ty cổ phần công nghệ gen ứng dụng Việt Nam kết luận: Phàn A có quan hệ huyết thống Cha – Con với Phàn Bảo V và Phàn Bảo L với xác suất 99.9999%. Để đảm bảo quyền của người cha và cũng đồng thời đảm bảo quyền lợi cho con chung đề nghị Tòa án áp dụng Điều 69; Điều 71; Điều 89; Điều 91; Điều 101; Điều 102 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phàn A xác định anh Phàn A là cha đẻ của cháu Phàn Bảo L sinh ngày 02/04/2024 và cháu Phàn Bảo V sinh ngày 02/04/2024.
Về án phí: Theo quy định tại điểm b Điều 12 Nghị quyết 236/2016.UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và anh Phàn A có đơn xin miễn án phí vì vậy đề nghị HĐXX xem xét cho anh Phàn A được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện và yêu cầu xác định cha cho con do đó xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về “ Xác định cha cho con” theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại thôn S, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai nên Tòa án nhân dân huyện B có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn Tòa án từ chối tham gia tố tụng và đề nghị Tòa án không triệu tập đến phiên tòa vì vậy Hội đồng xét xử không triệu tập người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lò A đến phiên tòa. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về nội dung vụ án:Anh Phàn A và chị Tẩn Mùi L đều khẳng định anh chị yêu thương nhau vào năm 2022. Quá trình yêu nhau lúc đó Tẩn Mùi L vẫn đang có chồng là anh Lò A. Trong thời gian qua lại với nhau thì đến tháng 07/2023 chị Tẩn Mùi L đã mang thai con của anh Phàn A đến ngày 02/04/2024 chị Tẩn Mùi L đã sinh đôi được 02 người con cháu Phàn Bảo L sinh ngày 02/04/2024 và cháu Phàn Bảo V sinh ngày 02/04/2024. Anh chị đều xác định cháu Phàn Bảo L và cháu Phàn Bảo V là con chung của anh Phàn A và chị Tẩn Mùi L. Căn cứ kết quả giám định ADN của Công ty cổ phần công nghệ gen ứng dụng Việt Nam đã kết luận: Anh Phàn A có quan hệ huyết thống cha con với Phàn Bảo L và Phàn Bảo V độ tin cậy 99,9999%. Như vậy có cơ sở để xác định anh Phàn A là cha của cháu Phàn Bảo L và Phàn Bảo V. Do anh Phàn A là cha đẻ của cháu Phàn Bảo L và Phàn Bảo V nên anh Phàn A có đầy đủ quyền của cha đối với con trong đó có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của Luật hôn nhân gia đình. Căn cứ vào các điều 69; Điều 71; Điều 89; Điều 91; Điều 101; Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phàn A là phù hợp
Về chi phí giám định: Anh Phàn A tự nộp chi phí giám định và tự nguyện chịu tiền chi phí giám định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Anh Phàn A có đơn xin miễn án phí theo quy định tại điểm b Điều 12 Nghị quyết 236/2016.UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 69; Điều 71; Điều 89; Điều 91; Điều 101; Điều 102 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về xác định cha cho con: Anh Phàn A là cha đẻ của cháu Phàn Bảo L sinh ngày 02/04/2024 và cháu Phàn Bảo V sinh ngày 02/04/2024.
Anh Phàn A , chị Tẩn Mùi L có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để cập nhật giấy khai sinh cho cháu cháu Phàn Bảo L sinh ngày 02/04/2024 và cháu Phàn Bảo V sinh ngày 02/04/2024. (Theo giấy chứng sinh số: 1180 và số 1181 ngày 02/04/2024 do Bệnh viện sản nhi tỉnh Lào Cai cấp).
Anh Phàn A có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
2. Về án phí: Anh Phàn A được miễn án phí theo quy định tại điểm b Điều 12 Nghị quyết 236/2016.UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn trả lại cho anh Phàn A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000652 ngày 23/05/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND tỉnh Lào Cai;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND huyện B (2);
- Các đương sự (2);
- Chi cục THADS huyện B;
- UBND xã C
- UBND xã B;
- Lưu HS; Lưu TA;
Đỗ Thị Thanh Hương THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN
TÒA
Vũ Thị Hòa
Bùi Xuân
Hà Thị Anh Hưởng
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND (2); - Các đương sự; - THADS huyện Bảo Yên; - UBND xã Nghĩa Đô - Lưu HS; TA; VP. | TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hà Thị Anh |