vanban.org

Bản án 27/2024/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Kim Tr với chị Nguyễn Thị Kim Y về việc: “Tranh chấp hụi”.

Chị Nguyễn Thị Kim Y phải trả cho chị Đinh Thị Kim Tr số tiền là 194.350.000 đồng. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, mà người phải thi hành án chưa thanh toán tiền số tiền trên, thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Chị Trang khởi kiện yêu cầu chị Y trả lại tiền hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Kim Tr với chị Nguyễn Thị Kim Y về việc: “Tranh chấp hụi”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/DS-ST
Ngày: 04/7/2024
V/v: “Tranh chấp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Dậu.

Ông Đặng Quang Hoạch.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 33/2024/TLST-DS ngày 31 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 255/2024/QĐST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Kim Tr, sinh năm: 1991.

Địa chỉ: 51/1D, ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm: 1996.

Địa chỉ: Tổ 1, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai

(chị Tr có mặt, chị Y vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa - nguyên đơn chị Đinh Thị Kim Tr trình bày:

Chị với chị Nguyễn Thị Kim Y có chơi hụi, chị Y là chủ hụi và có cung cấp cho chị 19 (mười chín) dây hụi (là số tiền mà người chơi hụi thỏa thuận phải nộp cho chủ hụi khi đến kỳ mở hụi). Ngày 02/10/2023, chị Y mời chị tham gia chơi hụi tuần, tháng bằng cách chuyển các chân hụi của những người đang chơi sang cho chị với hình thức đóng tiền hụi theo tuần và chị Y là chủ hụi hình thức vừa chuyển khoản số tài khoản 0121000761374 Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh Đ do chị Y chủ tài khoản. Tổng cộng chị Y chuyển cho chị là 19 (mười chín) dây hụi, mỗi dây gồm 12 (mười hai) người chơi (chân hụi) với chân hụi thấp nhất là 400.000 đồng/tuần và cao nhất là 4.000.000 đồng/tuần chưa bao gồm tiền lãi mỗi chân hụi. Chị Y giới thiệu cho chị mua lại 13 dây hụi của các hụi viên đang chơi, với hình thức chơi hụi cụ thể các dây như sau:

1. Dây hụi tuần số 1 (2 chân) mở ngày 02/10/2023 và mãn hụi ngày 17/10/2023, giá một chân hụi là 1.600.000 đồng, với tiền lời là 400.000 đồng, tổng cộng một chân hụi thu về được 2.000.000 đồng. Chị góp tám chân hụi và hốt hụi chót hết tám chân nên thu về được số tiền là 8 x 2.000.000 đồng = 16.000.000 đồng, cộng với tiền cò 1.300.000 đồng, tổng cộng dây thứ nhất chị nhận được số tiền là 17.300.000 đồng.

2. Dây hụi tuần số 2 (2 chân) mở ngày 20/9/2023 – 20/12/2023, giá một chân hụi là 400.000 đồng, chị tham gia sáu chân hụi và hốt hụi chót với tiền lời là 100.000 đồng/chân, thu về được số tiền là (400.000 đồng + 100.000 đồng) x 6 = 3.000.000 đồng cộng với hoa hồng 400.000 đồng, tổng cộng dây thứ 2 chị nhận được số tiền 3.400.000 đồng.

3. Dây hụi tuần số 3 mở ngày 20/9/2023 - 06/12/2023 giá một chân hụi là 1.600.000 đồng với tiền lời là 400.000 đồng, chị tham gia năm tuần hụi thu về được số tiền là (1.600.000 đồng + 400.000 đồng) x 5 = 10.000.000 đồng, cộng với hoa hồng 650.000 đồng, tổng cộng dây thứ 3 chị nhận được số tiền là 10.650.000 đồng.

4. Dây hụi tuần số 4 mở ngày 29/8/2023 - 16/12/2023, giá một chân hụi là 2.400.000 đồng, với tiền lời là 600.000 đồng/chân, chị tham gia tám tuần hụi, tổng cộng dây thứ 4 chị thu về được số tiền là (2.400.000 đồng + 600.000 đồng) x 8 = 24.000.000 đồng.

5. Dây hụi tháng số 5 mở ngày 20/6/2023 - 20/11/2023 (05 tháng), giá một chân hụi là 4.000.000 đồng, chị tham gia được 05 tháng với tiền lời là 1.000.000 đồng/chân, tổng cộng dây thứ 5 chị thu về được số tiền là (4.000.000 đồng + 1.000.000 đồng) x 5 = 25.000.000 đồng.

6. Dậy hụi tuần số 6 mở ngày 29/8/2023 - 22/11/2023, giá một chân hụi là 4.000.000 đồng, chị tham gia tám tuần hụi với tiền lời là 1.000.000 đồng/chân, tổng cộng dây thứ 6 chị thu về được số tiền là (4.000.000 đồng + 1.000.000 đồng) x 8 = 40.000.000 đồng.

7. Dây hụi tuần số 7 mở ngày 13/9/2023, giá một chân hụi là 800.000 đồng, chị tham gia sáu tuần hụi với tiền lời là 200.000 đồng/chân, tổng cộng dây thứ 7 chị thu về được số tiền là (800.000 đồng + 200.000 đồng) x 6 = 6.000.000 đồng.

8. Dây hụi tuần số 8 mở ngày 29/8/2023, giá một chân hụi là 800.000 đồng, chị tham gia tám tuần hụi, tổng cộng dây thứ 8 chị thu về được số tiền là 8.000.000 đồng.

9. Dây hụi tuần số 9 mở ngày 22/9/2023 – 08/11/2023, giá một chân hụi là 1.600.000 đồng, tiền lời là 400.000 đồng/chân, chị tham gia bốn tuần hụi, tổng cộng dây thứ 9 chị nhận được số tiền là 8.000.000 đồng.

10. Dây hụi tuần số 10 mở ngày 29/8/2023 – 08/11/2023, giá một chận hụi là 2.400.000 đồng, tiền lời là 600.000 đồng/chân, chị tham gia tám tuần hụi, tổng cộng dây thứ 10 chị thu về được số tiền là 24.000.000 đồng.

11. Dây hụi tuần số 11, mở ngày 29/8/2023 - 08/11/2023, giá một chân hụi là 2.400.000 đồng, chị cũng thu về được số tiền là 24.000.000 đồng.

12. Dây hụi tuần số 12, giá một chân hụi là 800.000 đồng, tiền lời là 200.000 đồng, chị tham gia tám tuần hụi, thu về được số tiền là 8.000.000 đồng.

13. Dây hụi tuần số 13, mở ngày 28/8/2023, giá một chân hụi là 4.000.000 đồng, tiền lời là 1.000.000 đồng/chân, chị tham gia góp tám tuần hụi cộng thêm hoa hồng 700.000 đồng, tổng cộng dây thứ 13 chị thu về được số tiền là 40.700.000 đồng.

Đến ngày 26/10/2023, chị Y tuyên bố vỡ hụi. Như vậy, tổng cộng tất cả 13 dây hụi mà chị đã tham gia của chị Y thu về được số tiền là 239.050.000 đồng (bao gồm tiền gốc là 191.850.000 đồng và tiền lãi là 47.200.000 đồng). Chị Y có chuyển cho chị 7.500.000 đồng tiền gốc, nên chị khởi kiện yêu cầu chị Nguyễn Thị Kim Y phải trả cho chị số tiền gốc là 184.350.000 và 10.000.000 đồng tiền lãi (đây là tiền lãi chị vay tiền người khác để chơi hụi và chị Y đã đồng ý trả chị số tiền này). Tổng số tiền yêu cầu chị Y phải trả cho chị là 194.350.000 đồng.

- Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, bị đơn chị Nguyễn Thị Kim Y trình bày:

Chị đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị Tr, vì chị còn nợ tổng số tiền hụi của chị Tr 191.850.000 đồng, nhưng chị đã trả được 7.500.000 đồng còn nợ lại 184.350.000 đồng tiền gốc và 10.000.000 đồng tiền lãi (đây là tiền lãi chị Tr vay tiền người khác để chơi hụi và chị đồng ý trả chị số tiền này).

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thủ tục hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được Tòa án thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đơn khởi kiện của chị Tr là có căn cứ vì bị đơn thừa nhận số tiền hụi còn thiếu và quá trình giải quyết vụ án bị đơn cũng đồng ý trả; về án phí: Hoàn trả tạm ứng án phí cho nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Đinh Thị Kim Tr nộp đơn khởi kiện yêu cầu chị Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm: 1996, địa chỉ: Tổ 1, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai phải trả cho chị số tiền nợ hụi là 194.350.000 đồng nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hụi” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

Về thủ tục tố tụng:

Chị Đinh Thị Kim Tr nộp đơn đúng trình tự thủ tục nên được thụ lý, giải quyết.

Chị Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần tham gia phiên tòa, nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Y.

Về yêu cầu khởi kiện:

Vào năm 2023, chị Tr có chơi hụi do chị Y làm chủ hụi, cụ thể chị Tr đóng 13 dây hụi, tổng cộng tất cả 13 dây hụi mà chị đã tham gia của chị Y thu về được số tiền là 239.050.000 đồng (bao gồm tiền gốc là 191.850.000 đồng và tiền lãi là 47.200.000 đồng). Đến ngày 26/10/2023, chị Y tuyên bố vỡ hụi, thì chị Y có chuyển cho chị Tr 7.500.000 đồng tiền gốc, sau đó không trả chị Tr tiền hụi nữa nên chị Tr khởi kiện yêu cầu chị Y phải trả cho chị Tr số hụi là 194.350.000 đồng (trong đó, tiền gốc là 184.350.000 đồng và 10.000.000 đồng tiền lãi - đây là tiền lãi chị Tr vay tiền người khác để chơi hụi và chị Y đã đồng ý trả chị số tiền này).

Trong quá trình, chị Y và chị Tr chơi hụi, chị Tr có cung cấp cho Tòa án 01 quyển sổ ghi chép số tiền hụi, trong đó thể hiện số tiền hụi chị Y còn nợ lại của chị Tr và chị Y cũng thừa nhận còn nợ hụi của chị Tr như số tiền chị Tr yêu cầu khởi kiện.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập chị Y để làm việc và hòa giải nhưng chị Y vắng mặt, thể hiện việc chị Y không có thiện chí tiếp tục trả tiền hụi cho chị Tr.

Từ những căn cứ trên, xét đơn khởi kiện của chị Tr là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Tr.

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, chị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 9.717.500 đồng.

Hoàn trả tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho chị Tr.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, 35, 39, 147, 220, 227, 228, 264 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 417, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Kim Tr với chị Nguyễn Thị Kim Y về việc: “Tranh chấp hụi”.

Tuyên xử:

1. Chị Nguyễn Thị Kim Y phải trả cho chị Đinh Thị Kim Tr số tiền là 194.350.000 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, mà người phải thi hành án chưa thanh toán tiền số tiền trên, thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả được tính theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Kim Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 9.717.500 đồng.

Hoàn trả tạm ứng án phí là 8.774.000 đồng cho chị Đinh Thị Kim Tr theo biên lai thu số 0006537 ngày 26/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

3. Chị Đinh Thị Kim Tr được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Chị Nguyễn Thị Kim Y có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

4. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ