- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mạch Chí T phạm tội Làm giả tài liệu cơ quan, tổ chức, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức;…"
- Căn cứ chính? Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2023/HS-ST Ngày: 31- 01 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lưu Văn Có
2. Ông Nguyễn Văn Bạn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đã mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý 02/2023/HSST ngày 04 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2023 đối với:
Bị cáo Mạch Chí T, sinh năm 1995 tại NT; nơi cư trú: Thôn LB, xã LS, huyện NS, tỉnh NT; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch Việt Nam; con ông Mạch Khanh D, sinh năm 1959 và bà Lê Thị Thu N, sinh năm 1969; tiền sự, tiền án: không; bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 28/12/2022; có mặt.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ; nơi cư trú: 24B đường ĐP, phường PL, thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Hoài T; nơi cư trú: Xã TH, huyện TO, tỉnh Vĩnh Long; vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Phạm Vũ P; nơi cư trú: 66A đường TS, phường PL, thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
2. Anh Lâm Nguyễn An K, nơi cư trú: Thôn PL, xã PĐ, thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Đức H đã từng là học viên của Trường sĩ quan lục quân 2. Trong thời gian học tập, công tác, Lê Đức H có quen biết với Huỳnh Hoàng T (sinh năm 1986; công tác tại Đại đội 2, Tiểu đoàn 457, Trung tâm huấn luyện vùng 4 Hải Quân, thành phố CR, tỉnh KH). Khoảng tháng 10 năm 2018, Lê Đức H xuất ngũ, nhưng Huỳnh Hoàng T không biết. Sau khi xuất ngũ, Lê Đức H đã làm giả giấy tờ tùy thân của mình và của người khác, rồi nhờ Huỳnh Hoàng T bảo lãnh vay nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của chị Nguyễn Thị Hồng Đ. Cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 04/02/2020, Hải gọi điện thoại cho Huỳnh Hoàng T nhờ vay một ít tiền để lo việc học và sẽ thế chấp thẻ Đảng viên, bằng lái xe quân đội. T đồng ý giúp Hải nên liên lạc với chị Nguyễn Thị Hồng Đ, thống nhất với chị Đ về việc T sẽ bảo lãnh cho H vay số tiền 100.000.000 đồng, với lãi suất 10%/tháng, trong đó T được hưởng 02%, H sẽ thế chấp thẻ Đảng viên, bằng lái xe quân đội cho chị Đ. Sau đó, T gọi điện thoại cho H, thông báo có thể giới thiệu cho H vay số tiền 100.000.000 đồng và không lấy tiền giới thiệu, nhưng bù lại H cho T mượn 20.000.000 đồng, H đồng ý và T gửi số điện thoại chị Đ cho H để H liên lạc và làm thủ tục vay tiền. Đến ngày 06/02/2020, H đến NT, dùng thẻ Đảng viên và Giấy phép lái xe giả mang tên Lê Đức H để vay chị Đ 100.000.000 đồng. Sau khi có được tiền, Hải chuyển khoản cho Huỳnh Hoàng T số tiền 20.000.000 đồng.
Lần thứ hai: Ngày 21/02/2020, H gọi điện thoại nhờ T giới thiệu với chị Đ cho một người tên “S” công tác ở Kho 719 thuộc Vùng 4 Hải quân, Cam Ranh vay số tiền 100.000.000 đồng và sẽ thế chấp thẻ Đảng viên, giấy chứng minh sĩ quan của “S”. T đồng ý giúp nên liên lạc với chị Đ, thống nhất về việc T sẽ bảo lãnh cho “S” vay số tiền 100.000.000 đồng, với lãi suất 10%, trong đó T được hưởng 02%. Sau đó, T gọi điện thông báo cho H biết chị Đ đã đồng ý cho vay. Lúc này, H lên mạng xã hội facebook, đăng tin “Cần tìm người làm việc lương cao, ai cần thì inbox” thì có một đối tượng tên “Nguyễn Văn N” (không rõ nhân thân, lai lịch – sống tại thành phố HCM) liên lạc, H liền rủ “N” đưa hình thẻ để làm giấy tờ giả để vay tiền chị Đ và sẽ trả công cho “N” 15.000.000 đồng, “N” đồng ý và đưa cho H hình thẻ. Sau đó, H lên mạng xã hội, tìm kiếm được nơi đặt làm giả giấy tờ và dùng ảnh thẻ của “N” để làm giả thẻ đảng viên và giấy chứng minh sĩ quan mang tên Lê Văn S với giá 8.000.000 đồng. Đến ngày 21/02/2020, sau khi có được thẻ đảng viên và giấy chứng minh sĩ quan giả, H cùng “N” đến gặp chị Đ và dùng giấy tờ giả trên vay số tiền 100.000.000 đồng. Sau khi có được tiền vay, H cho T mượn 10.000.000 đồng và trả công cho “N” số tiền 15.000.000 đồng như đã thỏa thuận.
Lần thứ ba: Ngày 10/3/2020, tương tự như trên, H gọi điện nhờ T giới thiệu với chị Đ cho một người em có thẻ Đảng viên và giấy phép lái xe vay số tiền 120.000.000 đồng, nhưng T nói chị Đ chỉ cho vay 100.000.000 đồng và khi vay được thì cho T mượn 20.000.000 đồng, H đồng ý. Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 11/3/2020, H đi đến Bến xe Miền Đông, thành phố HCM với mục đích tìm kiếm người đi chụp hình thẻ, làm giả giấy tờ để vay tiền chị Đ. Tại đây, H gặp Mạch Chí T đang giao gà cho khách, H liền rủ: “Có muốn kiếm tiền không”, T hỏi: “Kiếm tiền bằng cách nào?”, H trả lời: “Đi với anh chụp hình thẻ để làm giấy tờ vay tiền, vay được 100.000.000 đồng thì anh cho 15.000.000 đồng”, T đồng ý và chở H đi chụp hình thẻ. Sau khi có được hình thẻ của T, H không lấy bất cứ thông tin cá nhân nào của T mà hẹn T khi nào làm xong giấy tờ thì sẽ dẫn đi vay tiền.
Sau đó, H tìm kiếm trên mạng internet nội dung “Làm bằng, thẻ giả” và liên hệ với một tài khoản facebook “Cần làm bằng giả” nhờ làm thẻ Đảng viên, Giấy phép lái xe giả mang tên Trần Văn N bằng hình thẻ của T với giá 5.500.000 đồng. Đến tối ngày 12/3/2020, sau khi nhận được thẻ Đảng viên, giấy phép lái xe giả mang tên Trần Văn Nam, H gọi điện thoại di động cho T rồi cả hai cùng di chuyển từ thành phố HCM đến NT để thực hiện việc vay tiền.
Đến khoảng 07 giờ 00 phút ngày 13/3/2020, khi H và T đang ngồi uống nước ở một quán cà phê tại thành phố NT, H dặn T “Chút nữa ghi giấy nợ thì ghi tên Trần Văn T công tác tại Đại đội 1, Trung tâm huấn luyện thuộc Vùng 4 Hải quân, Cam Ranh”. Lúc này, T hỏi H: “Có sao không anh”, H trả lời: “Không sao, có người bảo lãnh vay hết rồi, trước đó anh vay rồi yên tâm, nếu vay được anh sẽ cho 15.000.000 đồng như đã thống nhất”, T đồng ý. Sau đó, cả hai đi đến một tiệm thuốc tây (không rõ địa chỉ) mua 01 hộp Salonpas, H lấy ra một miếng dán vào cổ T để che đi hình xăm sau gáy, đồng thời lấy thẻ Đảng viên và Giấy phép lái xe mang tên Trần Văn Nam bỏ vào túi quần sau của T. Tiếp đó, cả hai đến nhà chị Nguyễn Thị Hồng Đ để vay tiền thì bị chị Đ phát hiện thẻ Đảng viên và giấy phép lái xe mà giả nên đã cùng người nhà bắt giữ và đưa cả hai đến Công an phường Phước Long.
Trong quá trình truy tố, bị cáo Mạch Chí T đã bỏ trốn và cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố NT đã ra Quyết định truy nã, Viện kiểm sát nhân dân thành phố NT đã ban hành quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án đối với bị cáo Mạch Chí T.
Ngày 11/5/2021, Tòa án nhân dân thành phố NT đã xử phạt bị cáo Lê Đức H 04 năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức” và 07 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 97/2021/HSST ngày 11/5/2021.
Ngày 28/12/2022 bị cáo Cáo Mạch Chí T bị bắt khẩn cấp theo quyết định truy nã.
Tại bản Cáo trạng số 16/CT-VKSNT ngày 03 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Mạch Chí T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo điểm c, d khoản 2 Điều 341 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố NT thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên nội dung đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm c, d khoản 2 Điều 341; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015; Áp dụng khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 18 tháng đến 27 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 24 tháng đến 36 tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội. Về bồi thường, bị hại đã nhận được tiền bồi thường và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xét. Về án phí và quyền kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo Mạch Chí T thừa nhận các hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo sớm trở về làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 và 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại và những người liên quan khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên và của các cơ quan tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định.
Về hành vi phạm tội:
Tại phiên toà bị cáo Mạch Chí T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Kết luận giám định số 390/GĐTP/2020 ngày 25/6/2020; của những người làm chứng, cũng phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Do cần tiền để tiêu xài cá nhân, nên khi Lê Đức H rủ làm giả tài liệu của cơ quan nhà nước để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác thì T đã đồng ý. Trong thời gian 11 đến ngày 13/3/2021 T có hành vi cung cấp ảnh thẻ của mình cho Lê Đức H để làm giả thẻ đảng viên, giấy phép lái xe mang tên Trần Văn Nam với mục đích lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Hồng Đ. Sau khi làm giả các tài liệu này, ngày 11/3/2020, Mạch Chí T, cùng với Lê Đức H dùng tài liệu giả này đưa cho chị Nguyễn Thị Hồng Đ để lừa chị Đ số tiền 100.000.000 đồng, nhưng chưa thực hiện được việc chiếm đoạt thì bị phát hiện bắt giữ.
Như vậy, bị cáo đã có hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức và sử dụng tài liệu giả này để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Hồng Đ với số tiền 100.000.000 đồng (chưa chiếm đoạt được). Do đó, các hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 341 và điểm c khoản 2 Điều 174; của Bộ luật hình sự.
Đánh giá các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[4.1] Đối với tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức” quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 341 của Bộ luật hình sự.
Tại khoản 1 và điểm c, d khoản 2 Điều 341 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù 02 năm đến 5 năm tù.
c) Làm giả 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác”.
d) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng”.
Bị cáo Mạch Chí T đã làm giả 02 tài liệu của cơ quan, tổ chức: gồm 01 thẻ đảng viên, 01 giấy phép lái xe. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt tăng nặng là “Làm giả 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật hình sự.
Sau khi làm giả giấy tờ tài liệu của cơ quan, tổ chức nói trên, bị cáo đã sử dụng 02 tài liệu này để lừa đảo chiếm đoạt của bị hại số tiền 100.000.000 đồng (nhưng chưa chiếm đoạt được). Hành vi này của bị cáo đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (phạm tội chưa đạt). Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Đây là tội phạm nghiêm trọng. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt tăng nặng là “Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm nghiêm trọng...” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật hình sự.
Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại khoản 1 và 2 Điều 174 Bộ luật hình sự quy định:
"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng…., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù 02 năm đến 07 năm tù.
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”.
Bị cáo sử dụng tài liệu giả để lừa đảo chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Hồng Đ số tiền 100.000.000 đồng (nhưng chưa chiếm đoạt đươc thì bị phát hiên). Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt tăng nặng là “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Do bị cáo chưa chiếm đoạt được số tiền 100.000.000 đồng, nên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt quy định tại khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận Cáo trạng số 16/CT-VKSNT ngày 03 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Mạch Chí T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo điểm c, d khoản 2 Điều 341 của Bộ luật hình sự 2015, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Trong một thời gian ngắn thực hiện nhiều tội phạm. Đối với tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức” thì hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt đúng đắn của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính cơ quan Nhà nước. Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thì hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản hợp pháp của người bị hại được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Bị cáo với Lê Đức H (đã bị xét xử) là đồng phạm với nhau trong việc thực hiện các tội phạm, nhưng là đồng phạm giản đơn. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra sự hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, cũng như gây mất an ninh, trật tự tại địa phương; sau khi phạm tội đã bỏ trốn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, cũng như phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015; giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, sớm trở thành người có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Hồng Đ đã được bồi thường theo bản án số 97/2021/HSST ngày 11/5/2021, nên Hội đồng xét xử không xét.
Về xử lý vật chứng:
- 06 tài liệu bị cáo làm giả của cơ quan, tổ chức: gồm: 01 thẻ Đảng viên số: 77.291998 mang tên Lê Đức H; 01 thẻ Đảng viên số 77.624544 mang tên Lê Văn S; 01 thẻ Đảng viên số 77.375331 mang tên Trần Văn N; 01 giấy phép lái xe hạng A1, số 790191105042 mang tên Lê Đức H; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 770201903181 mang tên Trần Văn N; 01 giấy chứng minh sĩ quan số 07031556 đã được xử lý tại bản án số 97/2021/HSST ngày 11/5/2021.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, vỏ màu xanh thu giữ của bị cáo Mạch Chí T, điện thoại này không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt:
- Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, sửa đổi, bổ sung 2017. Xử phạt bị cáo Mạch Chí T 02 (hai) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 15; khoản 3 Điều 57; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Xử phạt bị cáo Mạch Chí T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Mạch Chí T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị Hồng Đ không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xét.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia, vỏ màu xanh (đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong).
Vật chứng trả lại cho bi cáo theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/01/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố NT với Chi cục thi hành án dân sự thành phố NT.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thành phố Nha Trang; - Công an thành phố Nha Trang; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Khánh Hòa; - Bị cáo; Người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Chi cục THADS. TP. Nha Trang; - Lưu án văn, VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Thanh Tùng |