vanban.org

Bản án 27/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn P phạm tội "Cướp giật tài sản". Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn P 04 (bốn) năm tù giam. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn tuấn phong - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HSST
Ngày: 06 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Hoàng L

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Võ Kim H

2/ Bà Nguyễn Thị Thanh T

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều O – Thư ký Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố H tham gia phiên toà: Ông Phan Minh V – Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 29/2023/HSST ngày 10 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn P; sinh năm: 1986, tại: Thành phố H; trú tại: 17/28 đường A, phường B, quận C, Thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1958 (chết); và bà Huỳnh Thanh T, sinh năm 1958; vợ, con: Chưa có; nhân thân: Ngày 20/5/2020 bị Công an phường TT xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; tiền sự: ngày 20/7/2020 bị Tòa án nhân dân dân quận T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 20/12/2021; tiền án: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/10/2022; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Đỗ Ngọc Phương T, sinh năm 2003; trú tại: 64/18 đường D, phường E, quận T, Thành phố H – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trang 1

Do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Tuấn P nảy sinh ý định đi cướp giật tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 27/10/2022, P điều khiển xe Yamaha Nouvo màu đỏ đen biển số 59L1 – 125.** đi đến trước nhà số 172 đường D, phường E, quận T phát hiện chị Đỗ Ngọc Phương T đang sử dụng điện thoại trên tay nên áp sát vào trước mặt chị T, P ngồi trên xe gắn máy còn nổ máy, giả vờ bắt chuyện hỏi chị T, lợi dụng chị T sơ hở thì P bất ngờ dùng tay phải cướp giật chiếc điện thoại di động Sam sung A12 màu trắng của chị T đang cầm trên tay, chị T giằng co lấy lại đồng thời tri hô, P kéo tay làm chị T té ngã, rồi giật lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần bên phải tăng ga tẩu thoát, chị T liền nắm đuôi xe của P kéo lại nhưng do P tăng ga nên chị T té ngã xuống đường. Lúc này, anh Hồ Đức Anh K thấy toàn bộ sự việc nên đuổi theo P liên tục đồng thời tri hô. Khi đến trước số 42/47 đường HDD, phường E, quận T thì xe của P té ngã xuống đường, P bỏ chạy bộ, anh K tiếp tục đuổi theo Pcùng với anh Nguyễn Hoài P bắt được Nguyễn Tuấn P cùng tang vật giao công an quận T làm việc.

Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKSQ.TP ngày 09 tháng 3 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận T đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn P về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm về tội danh và điều khoản mà cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn P từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng.

- Bị cáo Nguyễn Tuấn P đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án được tóm tắt như trên, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết

Trang 2

định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 27/10/2022 tại trước nhà số 172 đường D, phường E, quận T, Nguyễn Tuấn P điều khiển xe gắn máy biển số 59L1 – 125.** cướp giật chiếc điện thoại di động hiệu Sam sung A12 của chị Đỗ Ngọc Phương T rồi tăng ga tẩu thoát đến trước nhà số 42/27 đường HDD, phường E, quận T thì bị ngã xe, P bỏ xe chạy bộ thì bị quần chúng nhân dân bắt giữ giao công an phường E xử lý.

Vì vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Tuấn P phạm tội “Cướp giật tài sản”, như bản cáo trạng đã truy tố. Do bị cáo sử dụng xe gắn máy công khai, cướp giật tài sản có giá trị là 2.000.000 đồng và nhanh chóng tẩu thoát là thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm nên Viện kiểm sát nhân dân quận T truy tố bị cáo theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài nhưng không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách táo bạo và liều lĩnh, ngay trên đường phố có đông người qua lại, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, vào ngày 20/5/2020 bị Công an phường E xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 20/7/2020 bị Tòa án nhân dân dân quận T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 20/12/2021, đây là tình tiết cần lưu ý, xem xét khi lượng hình.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm khắc, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, cũng xem xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt là 01 điện thoại di động hiệu Sam sung Galaxy A12, đã thu hồi trả cho bị hại là chị Đỗ Ngọc Phương T, chị T không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết phần trách nhiệm dân sự.

Về xử lý vật chứng:

Trang 3

- 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A12 màu trắng, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T nên Hội đồng xét xử không xử lý.

- 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Nouvo màu đỏ đen, biển số 59L1 – 125.**, số khung RLCN5P1109Y055***; số máy 5P11-055***, xe do ông Võ Minh T là chủ sở hữu. Qua xác minh ông T đã bán nhà đi khỏi địa phương, hiện không rõ ở đâu. Bị cáo P khai mượn xe của một người quen biết ngoài xã hội không rõ địa chỉ, lai lịch. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu hoặc người đang quản lý sử dụng hợp pháp chiếc xe gắn máy nói trên, giao cho Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong hạn 06 tháng để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng hợp pháp, nếu không tìm được thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- 01 áo thun ngắn tay màu xanh có chữ STRONG, 01 quần Jean ngắn màu xanh có chữ DSQUARG02, 01 nón bảo hiểm màu xanh có hai sọc trắng ở giữa, hiện không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 bộ luật Tố tụng hình sự.

Án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn P phạm tội "Cướp giật tài sản".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn P 04 (bốn) năm tù giam.

Thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 10 năm 2022.

[2] Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo thun ngắn tay màu xanh có chữ STRONG, 01 (một) quần Jean ngắn màu xanh có chữ DSQUARG02, 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh có hai sọc trắng ở giữa.

- Giao cho Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong hạn 06 (sáu) tháng để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng hợp pháp 01 (một) xe gắn máy hiệu Yamaha Nouvo màu đỏ đen, biển số 59L1 – 125.**, số khung RLCN5P1109Y055***; số máy 5P11-055***, quá hạn nói trên mà không tìm được thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

(Vật chứng hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 06/PNK ngày 27/12/2022 của Công an quận T).

Trang 4

[4] Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn P nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân thành phố H. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ