vanban.org

Bản án 27/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 11/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/- Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2/- Áp d ng khoản 1 Điều 173, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Minh T 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị baét đi thi hành án. 3/- Áp d ng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh Tuấn phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/- Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀ BÌNH
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:27/2023/HSST
Ngày:11/08/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Xuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Liêu Tài Ngoánh

2/ Ông Huỳnh Tài Em

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dư, Thư ký Toà án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh– Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 11 tháng 08 năm 2023, tại tr s Toà án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số 35/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 06 năm 2023 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 38/2023/QĐXXST –HS ngày 28 tháng 07 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Minh T, sinh ngày 03 tháng 05 năm 1989, tại huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Nơi cư trú tại: Ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ văn hóa: 6/12. Dân tộc: kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn K và bà Trần Lhị N; có vợ (đã ly hôn) và 03 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án: Không; Tiền sự: không.

Bị cáo được tại ngoại từ đầu. (Bị cáo có m t).

- Bị hại: Ông Trần L, sinh năm 1961 (có đơn xin vắng m t)

Địa chỉ: Ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

- Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1970 (vắng m t).

Địa chỉ: Ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng hơn 16 giờ, ngày 13/4/2023, Lê Minh T đến nhà ông Trần L (Khánh) thuộc Ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Bạc Liêu để mượn tiền tiêu xài, nhưng ông L không cho mượn nên T về nhà. Khoảng 10 phút sau, T tiếp t c quay lại nhà ông L để năn nỉ mượn tiền nhưng không có ai nhà, nên T nảy sinh ý định lấy trộm tiền. T lén đi vào bằng đường cửa sau rồi vòng lên nhà trước để l c tìm tài sản, khi đến phòng khách, T phát hiện có một quần tây nam, màu trắng xám treo trên đầu võng nên đi đến l c tìm tài sản, T phát hiện bên trong túi quần trước bên phải có tiền nên lấy toàn bộ số tiền trong túi bỏ vào túi quần của T rồi chạy xe về nhà. Khi về đến nhà, T vào phòng ngủ và kiểm tra số tiền trộm được là 6.050.000 đồng (Sáu triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) rồi cất giấu trong túi áo khoác treo trong tủ quần áo trong phòng ngủ. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, ông L phát hiện bị mất tài sản nên xem lại camera của gia đình thì phát hiện T lấy trộm nên trình báo sự việc đến Công an xã T, huyện H. Khi lực lượng Công an mời về làm việc, T thừa nhận hành vi phạm tội và giao nộp toàn bộ số tiền đã lấy trộm của ông L.

Tại Cáo trạng số 32/CT-VKSHB ngày 28/06/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố bị cáo Lê Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Đề nghị:

- Áp d ng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Minh T từ 04 (bốn) tháng tù đến 05 (năm) tháng tù.

- Áp d ng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen, có bâu và viền cổ màu trắng. Có kích thước: Dài 71cm, rộng 49cm và 01 (một) quần short kaki màu trắng- sữa. Có kích thước: Dài 48cm, rộng 46,5cm.

Tại tòa, bị cáo Lê Minh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình đã truy tố.

Bị cáo Lê Minh T nói lời sau cùng với Hội đồng xét xử là xin được giảm nhẹ hình phạt.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trong quá trình tiến hành tố t ng: Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án không có người nào có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo Lê Minh T trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ s kết luận: Vào ngày 13/04/2023, tại Ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Lê Minh T có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Trần L số tiền 6.050.000 đồng (Sáu triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Khi thöïc hieän haønh vi phaïm toäi bò caùo Lê Minh T có ñaày đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội với l i cố ý trực tiếp. Vì vậy, hành vi của bị cáo Lê Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, việc truy tố, xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét thấy, haønh vi phaïm toäi cuûa bò caùo Lê Minh T khoâng nhöõng xaâm haïi ñeán taøi saûn cuûa chuû sôû höõu maø coøn laøm maát an ninh traät töï taïi ñòa phöông và hiện nay loại tội phạm này có chiều hướng ngày càng tăng, gây hoang mang bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần thiết phải áp d ng hình phạt cách ly bị cáo khỏi sinh hoạt xã hội một thời gian nhất định nhằm để cải tạo, giáo d c bị cáo chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật và tr thành người công dân tốt có ích cho xã hội và cũng như ph c v cho công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm chung trong xã hội.

Tuy nhiên, khi xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo, hội đồng xét xử cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và bị hại có đơn yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo T có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử xem xét áp d ng cho bị cáo được hư ng tình tiết quy định tại khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại – ông Trần L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Lê Minh T, nên Hội đồng xét xử không đ t ra xem xét.

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa Bình đã thu hồi và giao trả lại cho chủ s hữu là ông Trần L số tiền 6.050.000 đồng (Sáu triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) và giao trả cho bị cáo T 01 chiếc xe mô tô hiệu Airblade, màu đen- đỏ, biển kiểm soát 94K1-809.15, nên Hội đồng xét xử không đ t ra xem xét.

Đối với 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen, có bâu và viền cổ màu trắng. Có kích thước: Dài 71cm, rộng 49cm và 01 (một) quần short kaki màu trắng-sữa. Có kích thước: Dài 48cm, rộng 46,5cm là của bị cáo Lê Minh T. Xét thấy, các đồ vật trên đã cũ, không còn giá trị sử d ng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Minh T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/- Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2/- Áp d ng khoản 1 Điều 173, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Minh T 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị baét đi thi hành án.

3/- Áp d ng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen, có bâu và viền cổ màu trắng. Có kích thước: Dài 71cm, rộng 49cm và 01 (một) quần short kaki màu trắng- sữa. Có kích thước: Dài 48cm, rộng 46,5cm.

(Vật chứng trên hiện chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu đang quản lý- theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/7/2023)

4/- Về án phí: Áp d ng Điều 135,136 Bộ luật tố t ng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Minh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, bị cáo có m t có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng m t được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án vắng m t có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa v của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ