- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội: “Trộm cắp tài sản“.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27 /2023/HSST Ngày 10 tháng 3 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thu Hường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phùng Xuân Phong – Chủ tịch CCB
- Ông Nguyễn Đại Huy – Phó bí thư đoàn thị trấn Tây Đằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thị Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 3 năm 2023. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2023. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2023; đối với:
1.Bị cáo: Nguyễn Văn P, sinh ngày 11/3/2005, tên gọi khác: Không, giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn TH, xã TH, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội: Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không, trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn B (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Ng, sinh năm: 1980; Vợ, con: không; Tiền án: không; tiền sự; Ngày 25/2/2021 Toà án nhân dân huyện Ba Vì ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 18 tháng về hành vi “ Trộm cắp tài sản”. Nhân thân: Ngày 22/01/2020 bị Công an xã Thái Hoà ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản; Ngày 16/2/2020 bị Công an xã Thái Hoà ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản; Ngày 28/3/2020 có hành vi trộm cắp tài sản, ngày 24/4/2020 Chủ tịch UBND xã Thái Hoà quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường; Ngày 06/11/2020 Công an xã Thái Hoà ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản; Ngày 15/12/2020 Công an xã Thái Hoà ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo hiện đang bị giữ từ ngày 06/01/2023 và tạm giam từ ngày 12/01/2023 cho đến nay tại Trại tạm giam số 01 - Công an thành phố Hà Nội cho đến . Bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962
HKTT và chỗ ở hiện nay; Thôn TH, xã TH, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. ( Có mặt tại phiên toà )
*Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội: Ông Phan Hoành S – Trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo. ( Có mặt tại phiên toà ) * Bị hại:
- Chị Lê Thị H1, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Thôn MT, xã VT, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
(Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 05/01/2023, Nguyễn Văn P một mình đi xe máy điện màu đen, không lắp biển kiểm soát đi từ nhà đến khu vực công trường thủy nông, thuộc địa phận thôn Trung Hà, xã TH, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và mang theo cần câu để giả làm người đi câu và chờ cơ hội ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Sau đó P ngồi ở bờ ao gần công trường và chờ đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày thì thấy chị Lê Thị H1 (là cán bộ Xí nghiệp Thủy lợi Ba Vì) một mình điều khiển xe mô tô BKS: 29V1-562.77 màu sơn trắng đến nhà xe và dựng xe, cách chỗ P ngồi khoảng 30m. P nhìn thấy chị H1 mở cốp xe lên và cất chiếc túi xách vào trong đó rồi đóng cốp xe lại. Sau đó, chị H1 đi lên phòng làm việc tại tầng 2 khu nhà hành chính của Xí nghiệp Thủy lợi Ba Vì. Quan sát không có ai nên P nảy sinh ý định cạy phá cốp xe mô tô của chị H1 để lấy trộm tài sản trong cốp xe. P nhìn thấy trong khu vực nhà xe, dưới nền bê tông, cách vị trí P ngồi khoảng 05 mét có một thanh sắt hộp vuông màu nâu đỏ thì đi đến nhặt rồi đi đến đứng bên sườn phải xe mô tô của chị H1, tay trái cạy mép phải yên xe lên rồi dùng tay phải nhét đầu thanh sắt qua khe hở đó và bẩy cốp xe mở rộng ra đủ cho tay trái luồn vào trong cốp tìm tài sản. P sờ vào túi xách thì thấy túi xách không đóng nắp nên tiếp tục tìm trong túi xách thì thấy một ví da màu xanh, hình vuông, có khóa kéo, bên trong có tiền. Tổng số tiền là 4.600.000 đồng gồm 12 tờ tiền loại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lưu hành trong đó có 08 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 02 tờ mệnh giá 200.000 đồng và 02 tờ mệnh giá 100.000 đồng. P lấy số tiền trên ra khỏi ví rồi nhét lại ví vào trong cốp xe, rút thanh sắt ra khỏi cốp xe, cất số tiền vừa lấy được vào trong túi quần bên trái, phía trước P đang mặc. Cùng lúc này chị Trần Thị Ánh T và anh Phùng Tiến D là đồng nghiệp của chị H1 phát hiện và chạy ra phía ao cá để đuổi theo P nhưng P đã chạy lên xe máy điện và tẩu thoát. P điều khiển xe máy điện đi về nhà và thay bộ quần áo vừa mặc và đi vào nhà vệ sinh của gia đình cất giấu số tiền trộm cắp được vào khe hở giữa mái bờ lô xi măng và tường nhà vệ sinh. P đi ngay về nhà cất xe máy điện rồi một mình đi bộ ra khu cánh đồng xóm Trại, thôn Vân Hội, xã Phong Vân để lẩn trốn.
Công an xã TH kiểm tra vị trí P giấu tiền và kiểm đếm xác định số tiền đó phù hợp với đặc điểm số tiền mà chị H1 bị mất trộm.
* Về vật chứng vụ án:
- 12 (mười hai) tờ tiền loại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lưu hành trong đó có 08 tờ mệnh giá 500.000đ, 02 tờ mệnh giá 200.000đ và 02 tờ mệnh giá 100.000đ, tổng cộng là 4.600.000đ (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) là số tiền mà Nguyễn Văn P đã trộm cắp của chị Lê Thị H1.
- 01 (một) thanh sắt hộp vuông màu nâu đỏ kích thước (1,1x0,1x0,1)m. Đây là công cụ Nguyễn Văn P sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
- Bộ trang phục mà P mang mặc khi thực hiện hành vi phạm tội do P giao nộp gồm: 01 áo khoác nỉ màu đen, 01 quần dài màu đen- trắng, 01 mũ lưỡi trai màu đen
- xám.
Đối với các vật chứng trên, chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với 01 (một) xe mô tô BKS: 29V1-562.77, nhãn hiệu HONDA, loại SH MODE, màu sơn trắng: Quá trình xác minh xác định chiếc xe này là tài sản của chị Lê Thị H1 không phải là vật chứng của vụ án khác. Cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Vì đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Lê Thị H1.
* Dân sự: Chị Lê Thị H1 yêu cầu cơ quan công an trả lại cho chị số tiền 4.600.000đ (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng).
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng số: 22/CT-VKS ngày17/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì đã truy tố, tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 90,Điều 91,Điều 101; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 9 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2023. Về dân sự: Trả cho chị Lê Thị H1 số tiền 4.600.000đ (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì, Hà Nội. Tang vật: Tịch thu phát mại 01 (một) thanh sắt hộp vuông màu nâu đỏ kích thước (1,1x0,1x0,1)m, 01 áo khoác nỉ màu đen, 01 quần dài màu đen- trắng, 01 mũ lưỡi trai màu đen - xám. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà hôm nay Trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Văn P đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s,i khoản 1 Điều 51, Điều 90,Điều 91,Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị áp dụng hình phạt cho bị cáo là 6 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ba Vì, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về nội dung vụ án:
Khoảng 14 giờ 30 ngày 05/01/2023, Nguyễn Văn P đã có hành vi trộm cắp số tiền 4.600.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) của chị Lê Thị H1 Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Qua xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự HĐXX thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bố đẻ mất sớm, mẹ đẻ bị cáo bỏ đi không rõ địa chỉ, bị cáo sống cùng em trai đang học lớp 9, không người chăm sóc nuôi dưỡng bị cáo từ nhỏ, khi phạm tội bị cáo được 17 tuổi 9 tháng 24 ngày do vậy đang ở độ tuổi chưa thành niên, bản thân bị cáo có nhiều thân thân xấu về hành vi trộm cắp đã bị xử lý hành chính nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục lao vào con đường trộm cắp tài sản của người khác. Do vậy, HĐXX cần phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hộ một thời gian để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Trả cho chị Lê Thị H1 số tiền 4.600.000đ (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì, Hà Nội.
Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thanh sắt hộp vuông màu nâu đỏ kích thước (1,1x0,1x0,1)m, 01 áo khoác nỉ màu đen, 01 quần dài màu đen- trắng, 01 mũ lưỡi trai màu đen - xám.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội: “Trộm cắp tài sản“.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s,i khoản 1 Điều 51, Điều 90,Điều 91,Điều 101; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 06 ( Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2023.
3. Dân sự: Tuyên trả cho chị Lê Thị H1 số tiền 4.600.000đ (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì, Hà Nội.
Theo biên bản giao nhận vật chứng và ngày 28 /02 /2023 Công an huyện Ba Vì nộp vào tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì, Hà Nội).
4. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thanh sắt hộp vuông màu nâu đỏ kích thước (1,1x0,1x0,1)m, 01 áo khoác nỉ màu đen, 01 quần dài màu đen- trắng, 01 mũ lưỡi trai màu đen - xám.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 03 năm 2023 giữa Công an huyện Ba Vì và Chi cục thi hành án)
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 BLHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6.Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội - VKSND huyện - Người tham gia tố tụng - THA dân sự - Lưu hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ngô Thị Thu Hường |