vanban.org

Bản án 27/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 01/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Phùng Ái T, Trương Công N và Đỗ Hữu P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Phùng Ái T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xử phạt: Bị cáo Trương Công N 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Ái T "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ su…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Phùng Ái T, Trương Công N và Đỗ Hữu P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HS-ST
Ngày: 01-3-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Lê Mai.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Khắc Hiếu

Ông Lương Công Hạnh.

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Mai Lê Trúc Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Hiền – Kiểm sát viên.

Vào ngày 01 tháng 3 năm 2023; tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Phùng Ái T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 28/8/1997 tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: 04/10 L, Phường T, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phùng Chấn H, sinh năm 1965 và bà Đặng Thị Kim O, sinh năm 1973; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 03/9/2020, bị Công an thành phố Tuy Hoà xử phạt hành chính số tiền 2.700.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, không đội mũ bảo hiểm cho người đi xe máy khi điều khiển xe tham gia giao thông, không chấp hành hiệu lệnh của người kiểm sát giao thông, điều khiển xe lắp ráp trái quy định. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

2. Trƣơng Công N, tên gọi khác: Không; sinh ngày 10/11/1997 tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: N3, Phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Công T, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1970; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

3. Đỗ Hữu P, tên gọi khác: Không; sinh ngày 13/02/2003 tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: 06/1 N, Phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm lốp ôtô; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Hữu P, sinh năm 1969 và bà Phan Thị N, sinh năm 1970; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 31/10/2017, bị Công an thành phố Tuy Hoà xử phạt bằng hình thức cảnh cáo về hành vi đánh người khác gây thương tích. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại: Ông Hà Anh K, sinh năm: 1987; Địa chỉ: khu phố N1, Phường C, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

1/ Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm: 1979; Địa chỉ: 22B N, Phường M, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt.

2/ Chị Lê Thị Hồng G, sinh năm: 1995; Địa chỉ: 22B N, Phường M, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt.

3/ Chị Nông Thị Ly L, sinh năm: 2000; Địa chỉ: Phường S, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 23/7/2022, tại một quán nhậu thuộc Phường B, thành phố T, Nguyễn Quyết T1 trong khi ăn uống cùng Phùng Ái T, Trương Công N, Đỗ Hữu P và một số người khác thì T có kể về việc T có mâu thuẫn với anh Hà Anh K trong thời gian còn làm việc tại cơ sở Massage 24h ở khách sạn S Tourist; T nhờ mọi người đến chỗ làm của K tại cơ sở Massage 24h H ở địa chỉ 22B N, Phường M, thành phố T để đánh K nhưng không ai nói gì. Khoảng 23 giờ cùng ngày, sau khi mọi người ra về, T tiếp tục rủ T, N và P đi đánh anh K giúp T1 thì tất cả đồng ý. T1, T, N và P đi trên 03 xe mô tô đến khu vực ngã tư T – N gửi xe, rồi T, N, P đi vào cơ sở Massage 24h H để đánh anh K, riêng T1 không đi cùng vì sợ anh K biết mặt. Khi đến nơi, T vào quầy lễ tân trước, gặp anh K thì T giả vờ hỏi giá vé, T bảo giá vé mắc quá rồi dùng tay đánh vào mặt anh K 02 cái, dùng chân đá vào vùng đầu anh K làm anh K ngã xuống nền nhà; N, P đi theo sau cũng đến, N đá 01 cái vào hông bên trái của anh K; riêng P thấy anh K bị chảy máu nên không đánh nữa. Sau khi mọi người hô hoán thì T, N, P bỏ đi ra chỗ T1. Anh K được đưa đi cấp cứu.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 261/2022/TgT ngày 18/8/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Phú Yên đã kết luận: Hà Anh K bị tác động bởi vật tày và vật có cạnh gây nên tổn thương cơ thể, tỷ lệ 15%.

Về dân sự: Các bị cáo T, N, P đã bồi thường cho bị hại 10.000.000 đồng; Nguyễn Quyết T1 đã bồi thường 10.000.000 đồng; bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Bản cáo trạng số 26/CT-VKSTH ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa luận tội giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Phùng Ái T từ 15 tháng đến 18 tháng tù; xử phạt bị cáo Trương Công N từ 12 tháng đến 15 tháng tù; xử phạt bị cáo Đỗ Hữu P từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của các bị cáo tính từ ngày bắt thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: không xem xét. Về án phí, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tuy Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 23/7/2022, tại cơ sở Massage 24h H thuộc Phường M, thành phố T, tỉnh Phú Yên, Phùng Ái T, Trương Công N và Đỗ Hữu P dù không biết anh Hà Anh K là ai, không có mâu thuẫn gì với K nhưng nghe lời rủ rê, xúi giục của Nguyễn Quyết T1 đã có hành vi dùng tay chân đánh anh Hà Anh K gây thương tích với tỷ lệ 15%, hành vi của các bị cáo “có tính chất côn đồ”, đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hoà truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác là khách thể được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, trong đó bị cáo T, P có nhân thân xấu; nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định như đề nghị của Kiểm sát viên mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội các bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo P có ông ngoại là người có công với cách mạng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét các bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo T, N có 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo P có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự, quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung; giảm một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm học tập cải tạo tốt.

Xét tính chất, vai trò tham gia của các bị cáo: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, việc phân công, tổ chức không rõ ràng mà là ngầm tiếp nhận ý chí của nhau; trong đó Nguyễn Quyết T là người chủ mưu, khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác; bị cáo T, N đều là người thực hành nhưng T là người thực hành tích cực hơn, thương tích của bị hại chủ yếu do T gây ra, N chỉ tham gia đá 01 cái vào hông của bị hại; tính chất và mức độ tham gia của T cao hơn N nên mức hình phạt của T cao hơn N. P tham gia với vai trò giúp sức, không trực tiếp gây thương tích cho bị hại mà chỉ là người đi theo giúp sức về mặt tinh thần, P giữ vai trò thứ yếu nên mức hình phạt thấp hơn T, N.

Đối với Nguyễn Quyết T1 có hành vi đồng phạm với Phùng Ái T, Trương Công N và Đỗ Hữu P nhưng trước khi Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì T đã chết.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Phùng Ái T, Trương Công N và Đỗ Hữu P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phùng Ái T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Xử phạt: Bị cáo Trương Công N 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Hữu P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo Phùng Ái T, Trương Công N và Đỗ Hữu P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ