vanban.org

Bản án 27/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 28/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 01 (năm) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 15/02/2023. Về các biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYEN VAN S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
THÀNH PHỐ TÂY NINH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HS-ST
Ngày: 28/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Phi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Phú

2. Ông Võ Văn Trung

-Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Phạm Đoàn Trung, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn S, tên gọi khác: Không có, sinh năm 1994, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khu phố a, Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú hiện nay: khu phố HH, phường HT, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1977; anh, chị, em ruột có 01 người; vợ Nguyễn Thị D, sinh 1993, con: 02 người sinh năm 2020 và năm 2022.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo Nguyễn Văn S bị tạm giữ ngày 15/02/2023, chuyển tạm giam từ ngày 20/02/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy, khoảng 11 giờ ngày 15/02/2023, Nguyễn Văn S thuê xe ôm đi đến khu vực tượng đài Liệt sĩ thuộc phường Ninh S, tìm người thanh niên tên Tâm (không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) để mua ma túy đá. Khi gần đến nơi, nhìn thấy Tâm đang đứng trên vỉa hè nên S kêu dừng xe lại, một mình đi bộ đến gặp Tâm mua 300.000 đồng ma túy, Tâm đưa cho S 02 đoạn ống hút nhựa được hàn kín 02 đầu, bên trong có chứa ma túy. Có được ma túy, S bỏ vào túi quần phía trước bên trái của mình, rồi tiếp tục đi xe ôm về lại nhà trọ. Khi đi đến khu vực vòng xoay Trường Nam, S nhớ có người bạn tên Nhứt (không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) giới thiệu nhà ở khu vực đường Quang Trung, S định tìm Nhứt để hỏi thăm xin việc làm, nên S trả tiền xe ôm và đi bộ tìm nhà của Nhứt. Lúc 11 giờ 45 phút cùng ngày, khi S đang đi bộ trên đường Quang Trung thuộc Khu phố 4, Phường 2, thành phố Tây Ninh, thì bị lực lượng tuần tra Công an Phường 2, thành phố Tây Ninh kiểm tra, bắt quả tang đang cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần của S 02 đoạn ống hút nhựa, hàn kín 02 đầu bên trong chứa tinh thể rắn trong suốt là chất ma túy.

Tại kết luận giám định số 228 ngày 20/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu tinh thể rắn trong suốt bên trong 02 đoạn ống hút nhựa được hàn kín 02 đầu gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,3866 gam.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Qua xác minh Nguyễn Văn S không có tài sản nên không tiến hành kê biên.

Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Bản cáo trạng số: 32/CT-VKS ngày 06/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c Khoản 1, Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản.

Xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: : 01 (một) bì thư niêm phong ghi số vụ 228 có dấu đỏ hình tròn của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh và chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trơ lý Tạ Minh Phong (ma túy bị bắt giữ còn lại sau giám định) nên tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để được đoàn tự với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo, người làm chứng tại Cơ quan điều tra; phù hợp vật chứng vụ án cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Lúc 11 giờ 45 ngày 15/02/2023 tại Khu phố 4, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Văn S có hành vi tàng trữ trái phép 0,3866 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.

Hành vi của Nguyễn Văn S là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy nên phải chịu trách nhiệm hình sự.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự, như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Về tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm về sự độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là mối hiểm họa của xã hội, gây lan truyền căn bệnh HIV/AIDS và cũng chính là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.

Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hình phạt bổ sung:

Bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về biện pháp tư pháp:

Đối với những tài sản không còn giá trị sử dụng gồm: 01 (một) bì thư niêm phong ghi số vụ 228 có dấu đỏ hình tròn của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh và chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trơ lý Tạ Minh Phong (ma túy bị bắt giữ còn lại sau giám định) nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với người tên Tâm bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn S, do không biết họ tên, địa chỉ nên không làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tây Ninh tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý sau.

Trong phần luận tội, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật, xác định tội danh, xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận

Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 01 (năm) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 15/02/2023.

2. Về các biện pháp tư pháp:

Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư niêm phong ghi số vụ 228 có dấu đỏ hình tròn của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh và chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trơ lý Tạ Minh Phong (ma túy bị bắt giữ còn lại sau giám định).

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Văn S phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ