- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Phạm Văn Th, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Th phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2023/HS-ST Ngày 25 tháng 05 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Thuy;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lại Văn Phong và bà Bùi Thị Lành.
Thư ký phiên tòa: ông Vũ Văn Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 05 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 04 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXS
- HS ngày 10/05/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam, đối với bị cáo:
Phạm Văn Th, sinh năm 1990 tại Hà Nội; nơi ĐKHKTT: Thôn NX, xã VT, huyện ỨH, thành phố Hà Nội; chỗ ở: Thôn 6, xã ĐC, huyện KB, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn N, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 23/5/2008 bị Công an huyện Ứng Hòa thành phố Hà Nội xử phạt 150.000đ về hành vi ngồi trên xe mô tô, gắn máy không đội mũ bảo hiểm khi đi trên đường. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/12/2022 đến ngày 19/12/2022 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang tam giam tại Trại tạm giam Công an Hà Nam; có mặt.
- Bị hại:
+ Anh Trần Hoàng PhL, sinh năm 1980; nơi cư trú: 15A/2 Lê Hồng Phong, phường 3, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.
+ Chị Phạm Thị Thanh N, sinh năm 1980; nơi cư trú: 08/5, hẻm 6, tổ 5, HTLO, phường 1, thành phố BL, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.
+ Chị Nguyễn K.H, sinh năm 1979; nơi cư trú: Tổ dân phố Th.Đ, thị trấn HH, huyện HH, tỉnh Thái Bình; vắng mặt.
+ Anh Bùi Sơn D, sinh năm 1988, nơi cư trú: Ấp Ph.B, xã Ph.Tr, thị xã TU, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
+ Chị Trương Phùng Th.A, sinh năm 1988; nơi cư trú: 58 Trần NDt, phường PH, thành phố NTr, tỉnh Khánh Hòa; nơi ở: 27 Bế Văn Đàn, phường PHL, thành phố NTr, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
+ Chị Nguyễn Thị K.Tr, sinh năm 1986; nơ cư trú: 26/1 ĐTL, phường PhL, thành phố TDM, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Đình L, sinh năm 1972; nơi cư trú: 113 HNT, phường VT, thành phố NTr, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
+ Chị Phan Thị Th.H, sinh năm 1985, nơi cư trú: 41/21/2 Đống Đa, tổ 4, khu vực 1, Phường TN, thành phố QN, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
+ Ông Trương Văn.Tr, sinh năm 1974, nơi cư trú: 28B Trần Quang Diệu, tổ 17, khu vực 4, phường LTK, thành phố QN, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
+ Anh Lê Công L, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ 19, khu phố 4, Phường GhR, thành phố QN, tỉnh Bình Định; nơi ở: Tổ 17, khu phố 3, Phường GhR, thành phố QN, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn NX, xã VT, huyện ỨH, thành phố Hà Nội; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Với mục đích lợi dụng lòng tin của những nhà hảo tâm trong việc ủng hộ những người bị bệnh hiểm nghèo, tai nạn, những gia đình có hoàn cảnh khó khăn trên các trang mạng xã hội… để họ gửi tiền giúp đỡ vào tài khoản ngân hàng rồi chiếm đoạt. Khoảng tháng 4/2022, Phạm Văn Th tự tìm hiểu và biết được việc sử dụng máy tính sao chép, đăng tải thông tin, bài viết thông qua mạng xã hội mua các tài khoản Facebook với giá từ 15.000 đồng đến 25.000đ / 1 tài khoản, thuê bản quyền phần mềm Max care (ứng dụng quản lý tài khoản Facebook) với giá 2.800.000đ / 1 năm sử dụng và mua các tài khoản ngân hàng số 56724102004 mang tên Cao Văn.T (TPBank), số 17912967 mang tên Bùi MH (ACB), số 019014628 mang tên Nguyễn Thị Hoài.N (VIB), số 249346489 mang tên Nguyễn Vi.T (VPBank) với 2.000.000đ/01 tài khoản. Sau đó Th sao chép các bài viết kêu gọi từ thiện trên mạng xã hội và tiến hành chỉnh sửa thông tin người nhận tiền, số tài khoản nhận tiền theo thông tin của các tài khoản ngân hàng đã mua được rồi sử dụng phần mềm Max care điều chỉnh các tài khoản Facebook đã mua trước đó đăng tải hàng loạt các bài viết này lên nhiều hội nhóm Facebook. Khi những nhà hảo tâm đọc được bài đăng của Th và tin tưởng chuyển tiền ủng hộ vào các tài khoản do Th quản lý thì Th sử dụng thẻ ATM để rút trực tiếp tại cây rút tiền hoặc rút tiền mặt tại cửa hàng cung cấp dịch vụ rút tiền của Lê Khắc Đ sinh năm 1998 trú tại thôn TQ, xã ĐC, huyện KB, tỉnh Hà Nam và sử dụng tiêu xài cá nhân.
Đến ngày 10/12/2022, bạn của Th là Nguyễn TiếnD sinh năm 1993 trú tại Thôn NX, xã VT, huyện ỨH, thành phố Hà Nội đến Cơ quan ANĐT - Công an tỉnh Hà Nam đầu thú về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua hình thức kêu gọi từ thiện, đồng thời khai báo biết Phạm Văn Th cũng thực hiện hành vi lừa đảo như mình.
Thấy hành vi phạm tội của bản thân bị phát hiện, Phạm Văn Th đến Cơ quan ANĐT - Công an tỉnh Hà Nam đầu thú và khai nhận đã chiếm đoạt của nhiều người với số tiền khoảng 30.000.000 đồng, đồng thời giao nộp các đồ vật tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội gồm: số tiền 6.400.000 đồng; 01 case máy tính màu đen; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu AOC; 01 bộ bàn phím và chuột máy tính; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh bên trong lắp 01 sim Mobifone; 01 thẻ ngân hàng MBBank số 9704222019066547 mang tên PHAM VAN THANG; 01 thẻ ngân hàng TPBank số 4665849125761567 mang tên CAO VAN TUAN; 01 CCCD số 001090016418 mang tên Phạm Văn Th; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 010183002191 mang tên Phạm Văn Th; 01 đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 29Y3-373.10 mang tên Phạm Văn Th; 01giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe mô tô BKS: 29Y3-373.10; 01 ví da màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen BKS 29Y3-373.10. Ngoài ra gia đình Phạm Văn Th đã giao nộp số tiền 1.000.000 đồng để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của Phạm Văn Th gây ra.
Cơ quan ANĐT - Công an tỉnh Hà Nam đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn Th nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu nào liên quan đến vụ án.
Tiến hành khai thác các máy tính và điện thoại của Phạm Văn Th phát hiện: trong phần mềm Max care trên máy tính đang đăng nhập 858 tài khoản Facebook. Kiểm tra các tài khoản Facebook phát hiện nhiều bài đăng trên các hội nhóm có nội dung kêu gọi ủng hộ từ thiện đến các số tài khoản do Th quản lý nói trên.
Cơ quan An ninh điều tra đã xác minh tại Công ty Cổ phần Phần mềm Min Software, kết quả xác định tài khoản Max care của Phạm Văn Th có tồn tại trong danh sách khách hàng trên hệ thống đăng ký thuê phần mềm của công ty, tuy nhiên phía công ty không thu thập, lưu trữ lại dữ liệu về quá trình sử dụng phần mềm của khách hàng nên không thể kiểm tra, giám sát cũng như xác định mục đích sử dụng của khách hàng.
Cơ quan điều tra yêu cầu các ngân hàng có liên quan cung cấp bảng sao kê giao dịch và thông tin người đăng ký các tài khoản Phạm Văn Th khai đã sử dụng để nhận tiền từ thiện. Đến nay Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB), Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong (TP Bank), Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế (VIB) đã cung cấp các thông tin đăng ký và sao kê những tài khoản có liên quan. Đối với các ngân hàng khác, Cơ quan điều tra đã tiến hành đôn đốc nhưng vẫn chưa có kết quả.
Cơ quan ANĐT - Công an tỉnh Hà Nam đã tiến hành xác minh đồng thời ra các Quyết định ủy thác điều tra đến Cơ quan ANĐT - Công an các tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Tây Ninh, TP Cần Thơ, Bình Dương, Bình Định, Hưng Yên, Lâm Đồng, Thái Bình, Khánh Hoà lấy lời khai của những người đứng tên đăng ký các tài khoản ngân hàng Th khai sử dụng vào mục đích lừa đảo, lấy lời khai của những chủ tài khoản đã gửi tiền vào các số tài khoản do Th quản lý và lấy lời khai của các trường hợp Th lấy thông tin, hình ảnh để đăng tin lừa đảo.
Căn cứ tài liệu đã thu thập được xác định: Tài khoản ngân hàng số 56724102004 (TPBank) do Cao Văn.T, sinh năm 2004, trú tại thôn AM, xã TV, huyện CM, thành phố Hà Nội đứng tên đăng ký. Tuân khai báo được một người có tài khoản Facebook tên “Nguyễn Trang” nhờ đứng tên mở tài khoản. Người này có nhân thân, lai lịch thế nào, quản lý sử dụng tài khoản ngân hàng trên ra sao thì Tuân không rõ. Đối với các tài khoản ngân hàng còn lại đến nay chưa có kết quả xác minh. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào có đủ căn cứ sẽ tiến hành giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với những trường hợp gửi tiền vào các tài khoản do Th quản lý để ủng hộ các hoàn cảnh khó khăn, kết quả điều tra đã xác minh được nhân thân lai lịch 14 người. Trong đó có:
- 10 người Cơ quan điều tra đã lấy lời khai gồm: Anh Trần Hoàng PhL, sinh năm 1980, trú tại 15A/2 Lê Hồng Phong, phường 3, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng trình báo khoảng tháng 12/2022 đã chuyển số tiền 500.000 đồng vào tài khoản số 56724102004 mang tên Cao Văn.T để ủng hộ từ thiện. Chị Phan Thị Thanh Nh, sinh năm 1980, trú tại 08/5 Lãn Ông, phường 1, thành phố BL, tỉnh Lâm Đồng trình báo ngày 05/12/2022 đã chuyển số tiền 1.000.000 đồng vào tài khoản số 56724102004 mang tên Cao Văn.T để ủng hộ từ thiện. Chị Nguyễn K.H, sinh năm 1979, trú tại Tổ dân phố Th.Đ, thị trấn HH, huyện HH, tỉnh Thái Bình trình báo ngày 08/12/2022 đã chuyển số tiền 200.000 đồng vào tài khoản số 56724102004 mang tên Cao Văn.T để ủng hộ từ thiện. Anh Bùi Sơn D, sinh năm 1988, trú tại Ấp Ph.B, xã Ph.Tr, thị xã TU, tỉnh Bình Dương trình báo ngày 05/12/2022 đã chuyển số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản số 56724102004 mang tên Cao Văn.T để ủng hộ từ thiện. Chị Trương Phùng Th.A, sinh năm 1988, trú tại 27 Bế Văn Đàm, phường Phước Long, thành phố Nha Trang trình báo đầu tháng 12/2022 đã chuyển số tiền 500.000 đồng vào tài khoản số 56724102004 mang tên Cao Văn.T để ủng hộ từ thiện. Chị Nguyễn Thị K.Tr, sinh năm 1986, trú tại 26/1 ĐTL, phường PhL, thành phố TDM, tỉnh Bình Dương trình báo ngày 05/12/2022 đã chuyển số tiền 200.000 đồng vào tài khoản số 56724102004 mang tên Cao Văn.T để ủng hộ từ thiện. Ông Nguyễn Đình L, sinh năm 1972, trú tại 113 Hoàng Văn Thụ, phường Vạn Th, thành phố NhTr, tỉnh Khánh Hoà trình báo ngày 06/12/2022 đã chuyển số tiền 200.000 đồng vào tài khoản số 56724102004 mang tên Cao Văn.T để ủng hộ từ thiện. Chị Phan Thị Th.H, sinh năm 1985, trú tại phường ThN, thành phố QN, tỉnh Bình Định trình báo ngày 22/11/2022 đã chuyển số tiền 200.000 đồng vào tài khoản số 56724102004 mang tên Cao Văn.T để ủng hộ từ thiện. Anh Trương Văn.Tr, sinh năm 1974, trú tại phường LTK, thành phố QN, tỉnh Bình Định trình báo ngày 05/12/2022 đã chuyển số tiền 200.000 đồng vào tài khoản số 56724102004 mang tên Cao Văn.T để ủng hộ từ thiện. Anh Lê Công L, sinh năm 1992, trú tại Phường GhR, thành phố QN, tỉnh Bình Định trình báo ngày 07/12/2022 đã chuyển số tiền 200.000 đồng vào tài khoản số 56724102004 mang tên Cao Văn.T để ủng hộ từ thiện. Tổng số tiền những bị hại này đã chuyển vào các tài khoản do Th quản lý là 5.200.000 đồng.
- 04 người đã chuyển đến sinh sống tại nơi khác bao gồm: Chị Nguyễn Thị Minh.T sinh năm 1987, trú tại khu phố HB, phường HN, thành phố Tây Ninh; anh Lê Trọng T sinh năm 1986, trú tại xã QB, huyện QX, tỉnh Thanh Hoá; chị Phạm Thị M Th trú tại xã ĐN, huyện KhC, tỉnh Hưng Yên; chị Lý Mỹ Phg, sinh năm 1985, trú tại xã LTr, huyện CĐ, tỉnh Long An.
Ngày 15/02/2023, Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh Hà Nam đã đăng thông báo tìm bị hại của vụ án trên Báo Công an nhân dân tuy nhiên đến nay chưa có bị hại nào liên hệ, trình báo về việc bị Th lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Đối với những trường hợp mà Phạm Văn Th lấy thông tin hình ảnh để đăng tin lừa đảo kết quả điều tra đến nay xác định được 02 trường hợp thông tin và địa chỉ không tồn tại trên thực tế là công dân Bùi Thị Thuỳ O con của anh Bùi MH trú tại số 780/11/4 đường Bình Giã, phường 10, thành phố VT, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; công dân Phạm Thanh Thục 26 tuổi có chồng là Cao Văn T 33 tuổi trú tại xã AT, huyện HA, tỉnh Bình Định.
Đối với Lê Khắc Đ, quá trình điều tra xác định Đ đã giao lại công việc kinh doanh dịch vụ hỗ trợ giao dịch chuyển, rút tiền ngân hàng cho em họ là Giàng Chính Đ sinh năm 2000, trú tại thôn Thịnh Đại, xã ĐC, huyện KB quản lý. Việc thực hiện chuyển tiền, rút tiền cho Th do Đ và nhân viên là Đặng Phương A sinh năm 2001, trú tại xóm 4 MN, xã NgS, huyện KB thực hiện. Làm việc với cơ quan điều tra Đ, Phương A đều khai báo bản thân không biết số tiền do Th thuê cả hai chuyển và rút ra tiền mặt là tiền do phạm tội mà có. Do vậy không có căn cứ xác định những người này có trách nhiệm liên quan tới hành vi chiếm đoạt tài sản của Phạm Văn Th nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Lê Khắc Đ, Giàng Chính Đ và Đặng Phương A.
Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, truy tố các bị hại anh Trần Hoàng PhL và anh Bùi Sơn D đề nghị bị cáo phải trả lại số tiền đã chiếm hưởng; Các bị hại chị Phan Thị Thanh Nh, chị Nguyễn K.H, chị Trương Phùng Th.A, chị Nguyễn Thị K.Tr, Nguyễn Đình L, Phan Thị Th.H, Trương Văn.Tr, Lê Công L đều không yêu cầu Phạm Văn Th phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt và đề nghị. Nếu Cơ quan điều tra thu hồi số tiền bị cáo đã chiếm hưởng để sung quỹ Nhà nước.
Cáo trạng số 29/CT-VKS-P1 ngày 05 tháng 04 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã truy tố Phạm Văn Th về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Th phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 174; điểm b, s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự: Xử phạt Phạm Văn Th từ 9 đến 12 tháng tù.
Phạt bổ sung đối với bị cáo từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng sung quỹ Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Hoàng PhL, anh Bùi Sơn D đề nghị bị cáo trả lại số tiền đã chiếm đoạt. Nên Buộc bị cáo trả lại anh L 500.000đ, anh D 2.000.000đ. Các bị hại khác yêu cầu sung công quỹ Nhà nước số tiền bị cáo đã chiếm đoạt, nên cần tịch thu số tiền bị cáo đẫ chiếm đoạt sung quỹ Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Số tiền 7.400.000đ (Trong đó bị cáo tự nguyện giao nộp 6.400.000 đồng và 1.000.000đ mẹ bị cáo nộp) cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Tịch thu xung quỹ nhà nước 01 case máy tính màu đen; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu AOC; 01 bộ bàn phím và chuột máy tính; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh bên trong lắp 01 sim Mobifone; Tịch thu tiêu hủy 02 thẻ ngân hàng thu giữ của bị cáo gồm: 01 thẻ ngân hàng MBBank số 9704222019066547 mang tên PHAM VAN THANG; 01 thẻ ngân hàng TPBank số 4665849125761567 mang tên CAO VAN TUAN.
Trả lại cho bị cáo: 01 CCCD số 001090016418 mang tên Phạm Văn Th; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 010183002191 mang tên Phạm Văn Th; 01 đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 29Y3-373.10 mang tên Phạm Văn Th; 01giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe mô tô BKS: 29Y3-373.10; 01 ví da màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen BKS 29Y3- 373.10.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Việc vắng mặt của người bị hại trong vụ án thấy: Những người bị hại anh Trần Hoàng PhL, chị Phan Thị Thanh Nh, chị Nguyễn K.H, anh Bùi Sơn D, chị Trương Phùng Th.A, chị Nguyễn Thị K.Tr, Nguyễn Đình L, Phan Thị Th.H, Trương Văn.Tr, Lê Công L đều là những người ở các tỉnh xa, Cơ quan điều tra đã có văn bản lấy lời khai và tại đơn đề nghị, đơn trình bày của các bị hại (trừ anh Long, anh Duy) xác định không yêu cầu nhận lại số tiền bị cáo đã chiếm hưởng. Hội đồng xét xử thấy sự vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam là có căn cứ.
Về hành vi phạm tội và tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn Th khai nhận hành vi của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở kết luận: Với mục đích chiếm đoạt tiền của các nhà hảo tâm để có tiền tiêu sài cá nhân, Phạm Văn Th đã mua các tài khoản Facebook, tài khoản ngân hàng và thuê bản quyền phần mềm Max care sau đó sao chép các bài viết kêu gọi từ thiện trên mạng xã hội và chỉnh sửa thông tin người nhận tiền, số tài khoản nhận tiền theo thông tin của các tài khoản ngân hàng đã mua nói trên rồi dùng phần mềm Max care điều chỉnh các tài khoản Facebook đã mua, đăng tải các bài viết này lên nhiều hội nhóm Facebook kêu gọi ủng hộ để chiếm đoạt tiền của những nhà hảo tâm.
Bằng thủ đoạn trên, trong khoảng tháng 12/2022 Phạm Văn Th đã chiếm đoạt của anh Trần Hoàng PhL số tiền 500.000 đồng, chị Phan Thị Thanh Nh số tiền 1.000.000 đồng, chị Nguyễn K.H số tiền 200.000 đồng, anh Bùi Sơn D số tiền 2.000.000 đồng, chị Trương Phùng Th.A số tiền 500.000 đồng, chị Nguyễn Thị K.Tr số tiền 200.000 đồng, ông Nguyễn Đình L số tiền 200.000 đồng, chị Phan Thị Th.H 200.000 đồng, ông Trương Văn.Tr 200.000 đồng, anh Lê Công L 200.000 đồng. Tổng số tiền Th đã chiếm đoạt của 10 bị hại là 5.200.000 đồng. Th đã rút và tiêu sài cá nhân. Hành vi nêu trên của Phạm Văn Th đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn Th thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 6.400.000đ, mẹ đẻ bị cáo đã nộp 1.000.000 đồng để khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Ngoài ra, bị cáo ra đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo có ông ngoại là ông Nguyễn Hữu B được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, hạng ba và được tặng Kỷ niệm chương Chiến sỹ cách mạng bị bắt tù, đầy. Bị cáo có chú họ là Nguyễn Văn D là Liệt sỹ, nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào nhưng về nhân thân bị cáo là người có nhân thân xấu đã bị xử phạt 150.000đ về hành vi ngồi trên xe mô tô, gắn máy không đội mũ bảo hiểm khi đi trên đường.
Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng mạng xã hội đăng nội dung và hình ảnh không đúng sự thật để tạo lòng tin kêu gọi ủng hộ của những nhà hảo tâm rồi chiếm đoạt số tiền ủng hộ. Hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an.
Xét bị cáo là người không có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội đã thể hiện thái độ khai báo thành khẩn. Do vậy khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại cũng như nhân thân của bị cáo để tuyên mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Trả lại anh Trần Hoàng PhL số tiền 500.000đồng; anh Bùi Sơn D số tiền 2.000.000đồng. Các bị hại: Chị Phan Thị Thanh Nh, chị Nguyễn K.H, chị Trương Phùng Th.A, chị Nguyễn Thị K.Tr, ông Nguyễn Đình L, chị Phan Thị Th.H, ông Trương Văn.Tr, anh Lê Công L đều không yêu cầu Phạm Văn Th phải bồi thường và đề nghị sung quỹ Nhà nước số tiền bị cáo đã chiếm đoạt nếu cơ quan điều tra thu hồi được. Vì vậy, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.700.000đồng do phạm tội mà có còn lại bị cáo đã chiếm hưởng của các bị hại.
Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 7.400.000đ (Trong đó bị cáo tự nguyện giao nộp 6.400.000 đồng và 1.000.000 đồng mẹ bị cáo nộp) cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu xung quỹ nhà nước: 01 (một) case máy tính màu đen không rõ nhãn hiệu, phía sau có mã XEN46584X1102730243; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu AOC, số seri QKHMC1A002124; 01 bộ bàn phím và chuột máy tính; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh, số seri FCTW4DDU701, số IMEI: 352843111780255, bên trong lắp 01 sim Mobifone số thuê bao 0772121990, số seri8401200251532159, mật khẩu 077212;
Tịch thu tiêu hủy 02 thẻ ngân hàng thu giữ của bị cáo gồm: 01 thẻ ngân hàng MBBank số 9704222019066547 mang tên PHAM VAN THANG; 01 thẻ ngân hàng TPBank số 4665849125761567 mang tên CAO VAN TUAN.
Trả lại cho bị cáo: 01 CCCD số 001090016418 mang tên Phạm Văn Th; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 010183002191 mang tên Phạm Văn Th; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 018240, chủ xe Phạm Văn Th, xe nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, BKS 29Y3-373.10; 01Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô xe máy, chủ xe Phạm Văn Th, xe BKS: 29Y3-373.10; 01 ví da màu đen, có chữ HONDA; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen BKS 29Y3- 373.10, số máy: G3D4E-396832; số khung: RLCU0610GY378325.
Về các vấn đề khác:
Đối với các trường hợp đã chuyển tiền ủng hộ, giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn vào các tài khoản do Phạm Văn Th quản lý nhưng chưa có thông tin dữ liệu ngân hàng cung cấp; chưa có kết quả ủy thác hoặc người bị hại chưa trình báo nên chưa đủ căn cứ xác định Phạm Văn Th chiếm đoạt tiền của những người này. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ để xem xét, xử lý sau.
Ngoài ra trong quá trình điều tra Phạm Văn Th khai bản thân biết Nguyễn VT sinh năm 1992, trú tại thôn NX, xã VT, huyện ỨH, thành phố Hà Nội cũng thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng hình thức kêu gọi từ thiện. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập T để làm việc tuy nhiên Công an xã Vạn Thái và chính quyền thôn Nội Xá cung cấp Tính không có mặt tại địa phương. Việc T đi đâu làm gì Công an xã, chính quyền thôn không nắm được. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào có đủ căn cứ sẽ tiến hành giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 47 Bộ luật hình sự. Các Điều 106, 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Th phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Th 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/12/2022.
Phạt bổ sung đối với bị cáo 5.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
2. Về trách nhiệm dân sự:
- Buộc bị cáo Phạm Văn Th phải hoàn trả cho anh Trần Hoàng PhL 500.000 đồng; anh Bùi Sơn D 2.000.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.700.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có của các bị hại (Chị Phan Thị Thanh Nh, chị Nguyễn K.H, chị Trương Phùng Th.A, chị Nguyễn Thị K.Tr, ông Nguyễn Đình L, chị Phan Thị Th.H, ông Trương Văn.Tr, anh Lê Công L).
3. Về xử lý vật chứng:
Tiếp tục quản lý số tiền 7.400.000 đồng để đảm bảo thi hành án ( Theo ủy nhiệm chi lập ngày 21/04/2023).
- Tịch thu xung quỹ Nhà nước:
+ 01 (một) case máy tính màu đen không rõ nhãn hiệu, phía sau có mã XEN46584X1102730243; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu AOC, số seri QKHMC1A002124; 01 bộ bàn phím và chuột máy tính;
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh, số seri FCTCW4DDU701, số IMEI: 352843111780255, bên trong có lắp 01 sim Mobifone số thuê bao 0772121990, số seri: 8401200251532159, mật khẩu 077212;
+ Tịch thu tiêu hủy 02 thẻ ngân hàng thu giữ của bị cáo gồm: 01 thẻ ngân hàng MB số 9704222019066547 mang tên PHAM VAN THANG; 01 thẻ ngân hàng TPBank số 4665849125761567 mang tên CAO VAN TUAN.
- Trả lại cho bị cáo: 01 CCCD số 001090016418 cấp ngày 18/12/2021 mang tên Phạm Văn Th, 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số 010183002191 mang tên PhạmVănTh; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 018240, chủ xe PhạmVănTh, xe nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, BKS: 29Y3-373.10; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô xe máy, chủ xe Phạm Văn Th, xe BKS: 29Y3-373.10; 01 ví da màu đen, có chữ HONDA, 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu sơn đen BKS: 29Y3- 373.10, số máy: G3D4E-396832; số khung: RLCUG0610GY378325.
(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/04/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Nam và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, có quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Văn Th phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Công an tỉnh Hà Nam; - Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - Phòng NVHS Công an tỉnh Hà Nam; - Bị cáo, các đương sự; - Lưu HS, Tòa hình sự, Bộ phận HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Văn Thuy |