- Tranh chấp gì? án hình sự — "CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: N.H.P, 11 (mười một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2023/HS-ST Ngày: 07-04-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thanh Nga.
2. Bà Đinh Kim Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Quế Anh là Thư ký Toà án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Sinh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 04 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 132/2022/HSST ngày 17 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 03 năm 2023 đối với:
- Bị cáo:
N.H.P (tên gọi khác: T); sinh ngày 01 tháng 01 năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh; HKTT: Đ.T, phường C.G, Quận , Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông N.H.P và bà N.T.T; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bắt tạm giam ngày 02/08/2022 “có mặt”.
- Bị hại:
Ông N.H.C, sinh năm 1984 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Đ.V.B, phường z, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 21/7/2019, N.H.P đi về nhà tại số Đ.V.B, phường z, Phường a (nay là Phường b), Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh thì thấy có người đổ nhớt trước cửa nhà. Do N.H.P nghi ngờ người đổ nhớt là N.H.C nên đã đi xuống bếp lấy một con dao Thái Lan dài khoảng 20cm, cán dao bằng gỗ rồi điều khiển xe gắn máy hiệu Luvias màu xanh đen, biển số 59F1-XXX.89 tìm đến nhà của C để hỏi chuyện. Khi N.H.P đi đến Đ.V.B, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh thì nhìn thấy N.H.C đang ngồi uống cà phê nên đã bước xuống xe, cầm dao đi thẳng về hướng của C. N.H.C nhìn thấy N.H.P cầm dao đâm vào người của mình nên đã dùng một cái ghế Inox để đỡ nên không bị thương tích gì. Do được mọi người can ngăn nên N.H.P điều khiển xe gắn máy bỏ về nhà. Trên đường về nhà, N.H.P ném con dao Thái Lan ở ngã tư Đ.V.B – T.Đ, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không nhớ rõ địa điểm.
Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 21/7/2019, N.H.P gọi điện thoại cho N.N.C kể lại sự việc mâu thuẫn với N.H.C đồng thời rủ C*** chém C. N.N.C đồng ý nên đón xe Grab đi từ quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh về đến đầu hẻm Đ.V.B, Phường c, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh để gặp N.H.P. Sau khi được N.N.C đồng ý, N.H.P lấy một con dao tự chế dài khoảng 60cm, cán bằng gỗ dài 20cm có lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 40cm ở trong phòng ngủ của mình rồi điều khiển xe gắn máy hiệu Luvias màu xanh đen, biển số 59F1-XXX.89 đến điểm hẹn với N.N.C tại đầu hẻm 30 Đ.V.B, Phường 09, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, N.H.P đưa cho N.N.C con dao tự chế đã đem theo để làm hung khí chém N.H.C.
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 22/7/2019, N.H.C được bạn tên T (không rõ lai lịch) chở đi nhậu. Khi cả hai đi ngang qua chỗ N.H.P và N.N.C đang đứng tại đầu hẻm Đ.V.B, Phường c, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh thì Phúc nhìn thấy C nên dùng tay chỉ cho C*** thấy. Lập tức N.H.P điều khiển xe gắn máy loại Luvias, màu xanh đen, không rõ biển số chở N.N.C ngồi phía sau, cầm con đao trên tay phải đuổi theo xe của N.H.C. Khi đến chốt giao thông tại ngã tư Hoàng Diệu và Đ.V.B thì tín hiệu đèn giao thông chuyển qua màu đỏ nên T và N.H.C đã bỏ lại xe rồi chạy bộ. N.H.C nhảy xuống xe, bỏ chạy bộ vào quán cơm tại Đ.V.B, Phường c, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh., còn T thì bỏ chạy bộ tẩu thoát. Lúc này, N.H.P lấy cây kéo cắt chỉ (loại được dùng trong nghề may) ở trong hộc phía trước của xe gắn máy còn N.N.C cầm theo cao đao tự chế mà Phúc đã đưa trước đó rồi cả hai bỏ lại xe, chạy bộ đuổi theo N.H.C vào bên trong quán cơm. Tại đây, N.N.C đứng đối diện với N.H.C rồi cầm đao chém ngang vào người của C. N.H.C cầm 01 cái bàn nhựa của quán cơm lên đỡ thì bị N.N.C chém bể cái bàn nhựa, rơi xuống đất. Thấy vậy, N.N.C tiếp tục dùng cây đao chém vào người của N.H.C thì C dùng tay trái chụp lưỡi đao làm bị thương ở bàn tay trái. Sau đó, N.H.C dùng hai tay cầm 01 ghế Inox chống trả lại thì bị N.N.C chém liên tiếp 03 nhát, trong đó 01 nhát trúng vào tay phải nên C bỏ ghế inox ra, 01 nhát trúng vào đỉnh đầu và 01 nhát trúng vào đầu gối phải của C. Lúc này, N.H.P đi vòng ra phía sau lưng N.H.C rồi cầm cây kéo trên tay phải đâm thẳng 03 nhát về phía lưng của C, trong đó hai nhát trúng vào vùng bả vai phải và một nhát trúng vào vùng lưng bên phải cạnh cột sống của C. Khi thấy N.H.C bị chảy nhiều máu, N.H.P và N.N.C lấy xe bỏ chạy về hướng chùa G.N. Trên đường tẩu thoát, N.H.P đã vứt bỏ cây kéo tại đối diện quán cháo trắng trên đường H.D, Phường c, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Do xe hết xăng nên N.N.C đi bộ về nhà rồi cất cây đao tự chế trong hẻm T.Đ, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Còn N.H.P đem xe gắn máy về nhà cất, rồi đón xe ôm đến khách sạn ở K.T.S, huyện B.C, Thành phố Hồ Chí Minh để trốn. Sau đó, N.H.P gọi điện thoại báo cho N.N.C biết là N.H.C bị thương tích nặng nên C*** đã đi lấy cây đao tự chế và trang phục đã mặc khi chém C đem vứt bỏ tất cả tại bãi rác chợ X.C, Phường a (nay là Phường b), Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối với N.H.C được bạn là T chở đi cấp cứu tại Bệnh viện 115. Đến ngày 01/9/2019, N.H.C đến trụ sở Công an Phường C, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 1120/TgT.19 ngày 09/12/2019 của Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh kết luận như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Đa vết thương vùng cẳng cổ tay phải gây đứt da, đứt gân gấp nông sâu và gân duỗi các ngón, đứt bỏ mạch thần kinh trụ và quay, đứt thần kinh giữa, gãy xương vùng cổ tay đã được điều trị đặt và rút dụng cụ kết hợp xương, khâu nối động mạch, hiện còn:
+ Một sẹo chém và mổ phức tạp kích thước 70x(0,2-2) cm, sẹo lồi.
+ Một sẹo rút đinh tại mặt mu gốc ngón V kích thước 1x(0,1-0,3) cm, sẹo phẳng.
+ Tổn thương thần kinh quay, trụ và giữa trên điện cơ đồ.
+ Hạn chế nặng vận động cổ bàn ngón tay, mất cảm giác toàn bộ bàn tay.
+ Hình ảnh gãy xương vùng cổ tay và mẻ xương bàn ngón V trên phim Xquang.
Có tỉ lệ 49% (bốn mươi chín phần trăm).
Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra.
- Đa vết thương gây đứt da, đứt gân gấp nông sâu đã được điều trị, hiện còn các sẹo phẳng tại mặt lòng bàn tay trái:
+ Ngón II kích thước 2,7x(0,1-0,3) cm.
+ Ngón III kích thước 5,5x(0,1-0,3) cm.
+ Ngón IV kích thước 5x(0,1-0,3) cm.
+ Tình trạng ổn định.
Có tỉ lệ 02% (hai phần trăm) mỗi vết.
Các thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.
- Hai vết thương tại vùng bả vai phải gây thủng đứt da, mẻ xương sườn số 7, tràn phí màng phổi đã được điều trị đặt dẫn lưu, hiện còn:
+ Hai sẹo đâm lồi nhẹ kích thước 1,3x(0,2-0,4) cm và 1x(0,3-0,5) cm.
+ Một sẹo dẫn lưu lồi nhẹ tại mạn sườn phải kích thước 2,6x(0,1-0,6) cm.
Có tỉ lệ 02% (hai phần trăm) với vết không thấu ngực.
Có tỉ lệ 11% (mười một phần trăm) với vết thấu ngực.
Không đủ cơ sở xác định vết thương nào thấu ngực.
Thương tích do vật sắc nhọn tác động gây ra.
- Vết thương tại mặt trên ngoài gối phải gây đứt da, đứt cánh ngoài gân bánh chè đã được điều trị, hiện còn một sẹo lồi kích thước 12,5x(0,2-0,7) cm, tình trạng ổn định.
Có tỉ lệ 14% (mười bốn phần trăm).
Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.
- Đa vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn:
+ Mất một phần ngón I bàn tay trái, ổn định.
Có tỉ lệ 02% (hai phần trăm).
Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra.
+ Một sẹo phẳng tại mặt mu ngón II bàn tay phải kích thước 5,8x0,1cm, ổn định.
Có tỉ lệ 02% (hai phần trăm).
+ Một sẹo phẳng tại lưng phải cạnh cột sống kích thước 1,7x(0,15-0,4) cm, ổn định.
Có tỉ lệ 01% (một phần trăm).
Các thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.
- Đa chấn thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn các sẹo phẳng tại:
+ Vùng mặt trước 1/3 giữa cẳng chân trái kích thước 2,7x(0,1-0,2) cm, ổn định.
+ Vùng đỉnh sau phải kích thước 6x(0,1-0,2) cm, ổn định.
Có tỉ lệ 02% (hai phần trăm) mỗi sẹo.
+ Vùng mu khớp liên đốt ngón III bàn tay phải kích thước 1,1x0,1 cm, ổn định.
+ Vùng mu gốc ngón III bàn tay phải kích thước 1,7x0,1 cm, ổn định.
Có tỉ lệ 01% (một phần trăm) mỗi sẹo.
Các thương tích do vật tày, vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.
Cộng lùi các tỉ lệ trên theo Thông tư 20/2014/TT-BYT sẽ ra tỉ lệ 67,77% làm tròn số sẽ là 68% (sáu mươi tám phần trăm).
2. Theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 68% (sáu mươi tám phần trăm).
3. Kết luận khác: Không.
Ngày 23/12/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh bắt để tạm giam đối với N.H.P và N.N.C. Ngày 24/09/2020, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử và đã xử phạt N.N.C 10 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Đối với N.H.P đã bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã ra lệnh truy nã và tạm đình chỉ điều tra bị can. Đến ngày 02/08/2022, N.H.P đến Công an Phường b, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh để đầu thú.
Đối với xe gắn máy hiệu Luvias màu xanh đen, biển số 59F1-XXX.89, tại phiên tòa bị cáo khai nhận đã bán xe cho một người đàn ông không rõ lai lịch trong thời gian trốn truy nã nên Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh không thu hồi được.
Tại Cáo trạng số 109/CTr-VKSQ4 ngày 11/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo N.H.P về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo N.H.P thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu và xin được giảm nhẹ một phần hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Căn cứ vào nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù giam. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại N.H.C yêu cầu bồi thường số tiền 135.000.000 đồng. Tại phiên tòa ngày 24/09/2022, N.N.C đã tự nguyện đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền này và đã được ghi nhận tại bản án số 83/2020/HS-ST của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại Cơ quan điều tra cung như tại phiên tòa, bị cáo N.H.P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 22/7/2019, tại quán cơm số 126 Đ.V.B, Phường 09, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, N.H.P đã có hành vi dùng cây kéo cắt chỉ (loại được dùng trong nghề may) và N.N.C dùng cây đao tự chế gây thương tích cho N.H.C có tỷ lệ thương tật theo kết quả giám định là 68%. Hành vi của bị cáo N.H.P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với N.N.C đã bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh kết án vào ngày 24/09/2022 với mức án là 10 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo N.N.C kháng cáo hình phạt. Tại bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xử tuyên y án sơ thẩm.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được nhà nước bảo vệ và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục bị cáo cung như phòng ngừa chung tội phạm cho xã hội. Đây là vụ án có đồng phạm, trong đó N.H.P là người chủ mưu, rủ rê đồng thời cung là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cung như sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa thì chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống mà N.H.P đã dùng hung khí nguy hiểm là cây kéo loại cắt chỉ để tấn công gây nguy hiểm đến tính mạng và sức khỏe cho N.H.C theo kết luận giám định là 68%. Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Về nhân thân: Bị cáo N.H.P không có tiền án, không có tiền sự nhưng có nhân thân xấu. Năm 2015, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo đã chấp hành án xong vào ngày 01/12/2016. Trong vụ án, sau khi phạm tội, bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan điều tra Công an phải ra lệnh truy nã đối với bị cáo. Điều này cho thấy bị cáo không có thái độ hợp tác cung như gây khó khăn cho cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc điều tra vụ án. Đến ngày 02/08/2022, bị cáo N.H.P đầu thú. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên khi lượng hình cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
Quá trình điều tra cung như tại phiên tòa, N.H.P khai nhận: Sau khi gây thương tích cho N.H.C thì N.H.P đã vứt bỏ cây kéo tại đối diện quán cháo trắng trên đường H.D, Phường C, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự:
Tại bản án số 83/2020/HS-ST của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo N.N.C về việc đồng ý bồi thường số tiền 135.000.000 đồng (một trăm ba mươi lăm triệu đồng) cho ông N.H.C. Quá trình chuẩn bị xét xử, sau khi được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, bị hại ông N.H.C vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm d khoản 4 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt: N.H.P, 11 (mười một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Thời hạn tù tính từ ngày 02 tháng 08 năm 2022.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2021; Luật phí và lệ phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
3. Căn cứ Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa T thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; (1) - Người tham gia tố tụng khác (1) - CA TP.HCM; (1) - TAND TP.HCM; (1) - Sở Tư pháp TP.HCM; (2) - VKSND Quận 4; (1) - Công An Quận 4; (1) - Trại tạm giam CATPHCM; (1) - Chi cục THADS Quận 4; (3) - Chi cục THAHS Quận 4; (2) - Lưu VT, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Đoàn Thanh Trúc |