- Tranh chấp gì? án hình sự — "NVT - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2023/HS-ST Ngày 30-3-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Minh Phương;
Bà Phạm Thị Kim Thu;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Lệ Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần là phòng xét xử tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
NVT, sinh ngày 20 tháng 5 năm 1989 tại Nam Định. ĐKHKTT: Xóm A, xã B, huyện C, tỉnh Nam Định. Chỗ ở hiện nay: Số 2/52 đường D, phường E, quận F, thành phố Hải Phòng; nghề nghiê ̣p : Lao đô ̣ng tự do ; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông G và bà H; có vợ là I và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: có 01 tiền sự tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 081871/QĐ-XPHC ngày 12 tháng 4 năm 2021 xử phạt tiền 1.500.000đồng về hành vi trộm cắp tài sản (đã được xóa); bị tạm giữ từ ngày 05/12/2022 đến ngày 13/12/2022 chuyển tạm giam; có mặt.
- Bị hại: Anh BH, sinh năm 2001; ĐKHKTT: Số 33/20 J, phường K, quận F, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Số 1A/40/87 Quốc lộ 5, phường D, quận F, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Ngườ i là m chứ ng: Chị I, chị Nguyễn Thị Hồng Ánh; đều vắng mă ̣t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 04 tháng 12 năm 2022, NVT đi bộ từ nhà ra khu đô thị Vinhomes K, quận F, thành phố Hải Phòng. Khi đi đến trước căn hộ BH04-12A Mahattan, khu đô thị Vinhomes (phía công viên) NVT phát hiện thấy một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S22 Ultra màu xanh lục bảo của anh BH để trên bàn uống nước của căn hộ mà không có người trông coi nên NVT đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại. NVT lại gần bàn uống nước, dùng bàn tay trái lấy chiếc điện thoại và cho vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi về nhà. Đến ngày 05 tháng 12 năm 2022 NVT lên cơ quan Công an đầu thú và giao nộp lại chiếc điện thoại nêu trên.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 05/12/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận F kết luận: “01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S22 Ultra 5G Hàn Quốc (Số máy: SM-S908N) màu xanh lục bảo, bộ nhớ trong: 256GB, số Imei: 351562312029980, tình trạng kỹ thuật: máy đã qua sử dụng, vỏ và khung viền máy xước nhẹ, chân cắm cổng sạc bám bẩn, máy không có phụ kiện kèm theo như hộp đựng, tai nghe, dây sạc, chất lượng còn lại khoảng 85%, thời điểm định giá tháng 12/2022 có giá 15.000.000đồng”.
Tại Cáo trạng số: 34/CT-VKS-HB ngày 16-3-2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố NVT về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: NVT từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05/12/2022. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật . Bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
Về trách nhiệm dân sự:
Do anh BH đã được nhận lại tài sản là một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S22 Ultra màu xanh lục bảo. Anh BH không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và không yêu cầu , đề nghị gi k hác nên đề nghị Hội đồng
̀ xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 áo khoác màu đỏ hai bên vai màu đen, đã qua sử dụng;
+ 01 quần dài tối màu, đã qua sử dụng;
+ 01 đôi dép màu đen, đã qua sử dụng.
Tại phiên tòa:
Bị hại có mặt trình bày ý kiến: Bị hại đã nhận lại tài sản , không yêu cầu bi ̣ cáo bồi thường gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo cũng chỉ là người lao động nhất thời nổi lòng tham.
Bị cáo NVT thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng đã truy tố là đúng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về tội danh:
Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng về hành vi, thủ đoạn phạm tội, đặc điểm tài sản bị chiếm đoạt. Ngoài ra còn được chứng minh bởi Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 05/12/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận F, vật chứng là 01 chiếc điện thoại di động của bị hại đã được thu hồi. Bởi vậy, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 04 tháng 12 năm 2023 tại khu vực trước cửa căn hộ BH04-12A Mahattan, khu đô thị Vinhomes, K, F, Hải Phòng, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản, BH đa có hành vi lén lút để̃ chiếm đoa ̣t tài sản là một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S22 Ultra màu xanh lục bảo của anh BH. Tài sản bị cáo đã chiếm đoạt qua định giá là 15.000.000đồng. Bị cáo là người có đầy đủ khả năng điều khiển hành vi và nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do nhu cầu tiêu xài cá nhân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bởi vậy, cần phải được xử lý nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; khắc phục hậu quả là trả lại tài sản cho bị hại; sau khi phạm tội bị cáo tự nguyện đầu thú, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Nhân thân bị cáo có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, tuy đã được xóa nhưng phải đánh giá bị cáo không có nhân thân tốt. Do đó xét mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có nhân thân tốt lại không có ý thức cải tạo, tu dưỡng để trở thành người công dân lương thiện nên cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian và xét xử bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, căn cứ nguyên tắc xử lý của pháp luật hình sự cần khoan hồng đối với người thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, áp dụng hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, không có căn cứ xác định bị cáo có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Anh BH đã được nhận lại tài sản, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã giải t hích cho bị hại quyền được yêu cầu bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i nhưng bi ̣ ha ̣i không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã thu giữ:
Đối với: 01 áo khoác màu đỏ hai bên vai màu đen, đã qua sử dụng; 01 quần dài tối màu, đã qua sử dụng; 01 đôi dép màu đen, đã qua sử dụng. Xét đây là tài sản cá nhân của bị cáo, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo không đề nghị xin lại do các đồ vật này đã cũ, không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: NVT 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05/12/2022.
- Về dân sự:
Anh BH đã được nhận lại tài sản , Tòa án đã giải thích cho bị hại quyền
được yêu cầu bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i nhưng bi ̣ ha ̣i không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và không còn yêu cầu, đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
* Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 áo khoác màu đỏ hai bên vai màu đen, đã qua sử dụng;
+ 01 quần dài tối màu, đã qua sử dụng;
+ 01 đôi dép màu đen, đã qua sử dụng.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an quận Hồng Bàng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng ngày 16 tháng 3 năm 2023 tại Chi cục Thi hà nh á n dân sự quận Hồng Ba).̀ ng
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buô ̣c bị cáo NVT phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Bị cáo; Bị hại đều có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP.Hải Phòng; - VKSND TP. Hải Phòng; - PV 06; PC10 Công an TP. Hải Phòng; - CA quận Hồng Bàng; - Cơ quan THAHS Công an quận Hồng Bàng; - VKSND quận Hồng Bàng; - Chi cục THADS quận Hồng Bàng; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Phƣơng |