- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc T phạm tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q.HẢI CHÂU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 27/2023/HS-ST Ngày 07-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sanh
Ông Đặng Công Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 10 tháng 01 năm 2001 tại Quảng Nam. Nơi ĐKHKTT: 196 B, ấp Đ, xã B, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở: 201 N, phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1961và bà Lê Thị N, sinh năm: 1971, gia đình có 3 anh, em, bị cáo là con thứ 03; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Hải Châu ngày 25/9/2022, có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Trần K, sinh năm: 1969. Địa chỉ: 27 L, phường H, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Hoàng Trung D, sinh năm: 1971. Địa chỉ: 134/109/40 L, phường V, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 25/9/2022, Nguyễn Quốc T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 59F2-028.65 đi trên đường Lê Duẩn (theo hướng từ quận Liên Chiểu sang quận Sơn Trà). Khi đến ngã tư Lê Duẩn - Nguyễn Thị Minh Khai phát hiện bà Nguyễn Thị Trần K đang điều khiển xe mô tô Honda Vision biển số 92B1-209.91 đi trên đường Nguyễn Thị Minh Khai. Tại hộc trước, bên trái xe có để một chiếc ví bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Realme C3 và 1.800.000 đồng. T nảy sinh ý định chiếm đoạt nên đi theo bà K. Khi đến trước nhà số 89 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Hải Châu 1, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, T vượt lên bên trái, dùng tay phải giật chiếc ví rồi nhanh chóng bỏ chạy về hướng đường Hải Phòng. Khi đến ngã tư Nguyễn Thị Minh Khai - Hải Phòng thì va chạm với một xe ô tô loại 5 chỗ màu đỏ nên bị ngã và làm rơi chiếc ví của bà K, 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 9 Pro của T. T điều khiển xe tẩu thoát, bà K nhặt lại chiếc ví và điện thoại. Sau đó, bà K đến trường PTTH Phan Châu Trinh để họp phụ huynh cho con, có lấy số tiền 1.600.000 đồng trong ví để đóng tiền học. Sau khi họp xong, bà K đến Công an phường Hải Châu 1 trình báo sự việc.
Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, Tổ tuần tra Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu phát hiện T đang làm việc tại nhà số 161 Trần Hưng Đạo, thành phố Đà Nẵng nên mời về làm việc. T đã khai nhận hành vi cướp giật tài sản như trên.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 59F2-028.65, số khung V117JK 832071, số máy JFV1E1837829 của T; kèm 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 058261 mang tên Hoàng Trung D.
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 9 Pro màu trắng, số imei 860295040713054 của T.
- 01 ví cầm tay màu đỏ, kích thước 16x9x2,5 cm, trong ví có 640.000 đồng.
- 01 điện thoại di động hiệu Realme C3 màu đỏ của bà K.
- 01 đĩa CD bên trong lưu trữ 01 video tên “CGTS” dung lượng 575MB, độ dài 37 giây từ 07 giờ 30 phút 24 giây đến 07 giờ 31 phút 01 giây ngày 25/9/2022.
- 01 áo thun ngắn tay màu đen-cam-trắng, có chữ “Lightroom”; 01 quần lửng màu đen.
Theo kết luận định giá tài sản số 132/KL-HĐĐGTS ngày 12/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND quận Hải Châu, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Realme C3 trị giá 1.713.000 đồng; 01 chiếc ví cầm tay trị giá 137.000 đồng. Tổng trị giá là 1.850.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 11/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc T về tội "Cướp giật tài sản" theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T từ 3 đến 4 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho Nguyễn Quốc T 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 9 Pro màu trắng, số imei 860295040713054 và 01 áo thun ngắn tay màu đen-cam-trắng, có chữ “Lightroom”; 01 quần lửng màu đen.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 59F2-028.65, số khung V117JK 832071, số máy JFV1E1837829 kèm 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 058261 mang tên Hoàng Trung D. Xe này do ông Hoàng Trung D đứng tên nhưng hiện nay ông D không có mặt ở địa phương, Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu tiếp tục xác minh và xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Bà K đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì.
Tại phiên tòa, quá trình xét hỏi bị cáo Nguyễn Quốc T thừa nhận hành vi phạm tội như trong bản cáo trạng đã truy tố.
Người bị hại bà Nguyễn Thị Trần K trình bày: Lời khai của T là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Bà K đã nhận lại toàn bộ tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Bà K đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.
Bị cáo Nguyễn Quốc T nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải, xin lỗi người bị hại, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hải Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở để xác định: Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 25.9.2022, tại đoạn đường trước nhà số 89 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Hải Châu 1, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Quốc T điều khiển xe mô tô biển số 59F2-028.65 cướp giật tài sản là 01 chiếc ví bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Realme C3 trị giá 1.713.000 đồng và số tiền 1.800.000 đồng của bà Nguyễn Thị Trần K đang điều khiển xe mô tô biển số 92B1 - 209.91 đi trên đường, tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 3.650.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Quốc T đã phạm vào tội "Cướp giật tài sản" theo quy định tại Điều 171 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Nguyễn Quốc T là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì thấy: Nguyễn Quốc T đang điều khiển xe lưu thông trên đường khi phát hiện bà K cũng đang điều khiển xe mô tô đi phía trước để tài sản là cái ví trông hộc xe nên đã nảy sinh lòng tham, áp sát xe người bị hại cướp giật cái ví trong hộc xe của người bị hại rồi nhanh chóng tẩu thoát, đây là thủ đoạn phạm tội nguy hiểm có thể gây nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe của người bị hại và những người khác tham gia giao thông nên bị cáo phải chịu trách nhiệm theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Quốc T đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an của địa phương. Hành vi của bị cáo thể hiện sự liều lĩnh và coi thường pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng: Không có.
Về các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, người bị hại có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên khi quyết định mức hình phạt Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về xử lý tang vật và trách nhiệm dân sự:
Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Trần K 01 điện thoại di động hiệu Realme C3, 01 ví cầm tay và số tiền 640.000 đồng, bà K đã nhận lại tài sản này và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 9 Pro màu trắng, số imei 860295040713054 và 01 áo thun ngắn tay màu đen-cam-trắng, có chữ “Lightroom”; 01 quần lửng màu đen là tài sản của T không liên quan đến việc phạm tội nên HĐXX căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho Nguyễn Quốc T.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 59F2-028.65, số khung V117JK 832071, số máy JFV1E1837829 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 058261 mang tên Hoàng Trung D. Xe này do ông Hoàng Trung D đứng tên nhưng hiện nay ông D không có mặt ở địa phương, Cơ quan CSĐT Công án quận Hải Châu tiếp tục xác minh và xử lý sau.
Vật chứng trên, hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/03/2023.
Xét những đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tại phiên tòa hôm nay là có cơ sở, HĐXX chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2. Xử phạt: Nguyễn Quốc T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt tạm giữ, ngày 25/9/2022.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho Nguyễn Quốc T 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 9 Pro màu trắng, số imei 860295040713054 và 01 áo thun ngắn tay màu đen-cam-trắng, có chữ “Lightroom”; 01 quần lửng màu đen.
Vật chứng trên, hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/03/2023.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Bị cáo Nguyễn Quốc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - CA quận Hải Châu; - VKSND quận Hải Châu; - VKSND TP Đà Nẵng; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Phương Thảo |