- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Ngọc Thanh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 27/2023/HS-ST Ngày: 17-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Tuấn Đạt và bà Phạm Thị Liễu
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Huỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai (hình thức xét xử trực tuyến) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Phùng Ngọc Thanh T – sinh năm 1987, tại Đồng Nai
Nơi cư trú: Ấp x, xã PĐ, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phùng Ngọc B – sinh năm 1959 và bà Phạm Thị B – sinh năm 1962; Có vợ là Trương Thị V – sinh năm 1986; Có 02 (Hai) con, lớn nhất sinh năm 2010 và nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền sự: Không;
Tiền án: Ngày 23/02/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
Về nhân thân: Ngày 27/5/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 28/6/2006 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (một) năm 04 (Bốn) tháng tù, tổng hợp hình phạt là 02 (Hai) năm 04 (Bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2022 đến nay (Có mặt).
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Đ – sinh năm 1958 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp x, xã PĐ, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng: Anh Đào Văn K – sinh năm 1991 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp x, xã PĐ, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phùng Ngọc Thanh T có 01 tiền án về tội xâm phạm quyền sở hữu, đã chấp hành xong án phạt tù (ngày 23/01/2022) nhưng chưa được xóa án tích.
Vào khoảng 19 giờ 00 ngày 03/12/2022, Phùng Ngọc Thanh T đi bộ đến nhà thờ giáo xứ ĐH thuộc Ấp x, xã PĐ, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. T đi vào sân nhà thờ thì phát hiện 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Natty màu bạc (trên xe có 01 sợi dây thun loại dây ràng) của bà Nguyễn Thị Đ dựng trong sân nhà thờ không có người trông coi. T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản làm phương tiện đi lại và lấy xe đạp đem về nhà cất giấu. Ngày 06/12/2022, anh Đào Văn K (là con của bà Đ) phát hiện T đi xe đạp của bà Đ nên đã trình báo công an xã PĐ.
Tại cơ quan điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 72/KL-HĐĐGTS ngày 08/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Phú xác định: 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Natty màu bạc đã qua sử dụng có giá trị còn lại là 550.000 đồng; 01 sợi dây thun loại dây ràng có giá trị 00 đồng.
Theo Cáo trạng số 27/CT-VKSTP-ĐN ngày 17/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Phùng Ngọc Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phùng Ngọc Thanh T mức án từ 12 (Mười hai) đến 14 (Mười bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: Đối với tài sản đã thu hồi trao trả cho bị hại nên không đề nghị xem xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản, đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị là tương xứng đối với bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:
Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ như biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, bản ảnh, sơ đồ nơi xảy ra vụ việc, biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu... Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:
Phùng Ngọc Thanh T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2016, có 01 tiền án về tội xâm phạm quyền sở hữu, chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa được xóa án tích. Vào khoảng 19 giờ 00 ngày 03/12/2022, T đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của bà Nguyễn Thị Đ trị giá 550.000 đồng tại Ấp x, xã PĐ, huyện Tân Phú.
Hành vi của Phùng Ngọc Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo. Ngoài ra còn xem xét tài sản đã được thu hồi trao trả cho chủ sở hữu, bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ quyết định hình phạt:
Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, để có xe làm phương tiện đi lại thì bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo đã từng bị xét xử ba lần về tội chiếm đoạt tài sản; tuy nhiên bị cáo không thay đổi, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục hành vi chiếm đoạt tài sản, thể hiện thái độ không ăn năn hối cải, ý thức chấp hành pháp luật kém. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương.
Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo tự rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật, tu dưỡng bản thân trở thành người công dân tốt sống có ích cho xã hội, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, do bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đồng thời xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo, thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự: Đối với bà Nguyễn Thị Đ đã nhận tài sản và không yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với tài sản (chiếc xe đạp và sợi dây thun loại dây ràng) đã thu hồi trao trả cho bị hại là phù hợp, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Phùng Ngọc Thanh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phùng Ngọc Thanh T 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/12/2022.
2. Về án phí: Bị cáo Phùng Ngọc Thanh T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát ND tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát ND huyện Tân Phú; - Công an huyện Tân Phú; - Chi cục THA dân sự huyện Tân Phú; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Tùng |