- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc K - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2023/ HS-ST Ngày: 04 - 4 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Bằng.
-Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Trước.
2. Ông Trần Thanh Khen.
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Hoa –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ: Ông Dương Vũ Trường Giang– Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 26/ 2023/ TLST- HS ngày 10 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023 đối với:
-Bị cáo: Nguyễn Quốc K, sinh ngày: 24/7/2006. Tên gọi khác: Không. Tại: Vĩnh Long; Nơi cư trú: ấp T, xã A, huyện H, tỉnh L; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1979 và bà Nguyễn Thị Yến N, sinh năm: 1984; Anh chị em ruột: có 02 người, lớn nhất sinh năm: 2004, nhỏ nhất là bị cáo; Tiền sự: Không; Tiền án: không.
Ngày 10/01/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội trộm cắp tài sản và ra lệnh cấm khỏi nơi cư trú.
-Người đại diện hợp pháp của bị cáo:
1. Bà Nguyễn Thị Yến N, sinh năm: 1984 ( mẹ bị cáo)
2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1979 ( cha bị cáo)
Nơi cư trú: ấp T, xã A, huyện H, tỉnh L
Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T là bà Nguyễn Thị Yến N, sinh năm: 1984. Nơi cư trú: ấp Long Tân, xã Long An, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
-Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc K: Ông Lê Văn N – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Long.
-Bị hại: Bà Lê Thị N, sinh năm: 1979 ( Vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp T, xã A, huyện H, tỉnh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 00 giờ 10 phút ngày 03/12/2022 Nguyễn Quốc K nảy sinh ý định lấy trộm tài sản tại nhà của bà Lê Thị N thuộc ấp Long Tân, xã Long An, huyện Long Hồ cách nhà của K khoảng 200m nên K đã đi bộ một mình từ nhà của K đến nhà của bà N tìm điện thoại di động để lấy trộm, nhằm để sử dụng.
Đến khoảng 01 giờ thì K đến nhà bà N, K trèo lên vách tường nhà chui qua khoảng rống giữa vách tường với mái nhà, vào được bên trong nhà. Lúc này trong nhà bà N và con gái bà N đều ngủ say, K lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A73 5G màu xanh được để trên giường trong phòng, 01 điện thoại hiệu OPPO A5S màu đỏ để trên giường ở ngoài phòng khách. K lấy được 02 điện thoại bỏ vào túi quần bên phải đang mặc, đang chuẩn bị đi ra khỏi nhà thì bà N thức giấc, nhìn thấy K bà N kêu lớn “Trộm” nên K liền mở chốt cửa và bỏ chạy ra ngoài, rồi chạy về nhà của K. Khi về nhà K có lội qua con sông nên điện thoại bị dính nước. Về đến nhà, K lấy 02 điện thoại vừa trộm được cất giấu trên la phông trong phòng ngủ của K. Đến khoảng 05 giờ 55 phút ngày 03/12/2022 bà Lê Thị N trình báo vụ việc trên với công an xã Long An. Sau đó công an đến nhà Khánh làm việc thì K tự nguyện giao nộp 02 điện thoại di động trộm được tại nhà bà Lê Thị N cho cơ quan công an.
Căn cứ kết luận định giá tài sản số 04 ngày 04/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5S màu đỏ trị giá 800.000đồng; 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A73 5G màu xanh trị giá 3.000.000đồng.
Quá trình điều tra Nguyễn Quốc K đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Thị N đã nhận lại tài sản, do điện thoại bị dính nước phải sửa chữa nên bà N yêu cầu bồi thường tiền sửa điện thoại với số tiền 3.000.000đ. Bị can K đã bồi thường xong.
Cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 10 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố Nguyễn Quốc K về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
-Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đối với hành vi phạm tội của bị cáo là đúng. Quá trình điều tra không có ai ép cung bị cáo.
-Tại phiên Tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ vẫn giữ quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Quốc K. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội“ Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc K mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thửa thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Không
Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
-Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố; trình độ văn hóa bị cáo thấp, ý thức pháp luật kém, nhất thời phạm tội, tính nguy hiểm cho xã hội không cao; tài sản đã giao nộp trả lại cho bị hại; bị cáo thật thà khai báo năn năn hối cải; bị cáo chưa có tiền án tiền sự; bà nội bị cáo là người có công cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ; khi phạm tội bị cáo chưa thành niên tâm sinh lý còn hạn chế; bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bản thân bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật ở địa phương. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo mức án 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
-Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định.
.Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để xác định:
Vào khoảng 01 giờ ngày 03/12/2022 Nguyễn Quốc K đã có hành vi lén lúc trèo lên vách tường đi vào bên trong nhà của chị Lê Thị N lấy trộm 02 diện thoại di động, có tổng giá trị tài sản là 3.800.000 đồng đem về nhà cất giấu để sử dụng.
Như vậy có đủ căn cứ để xác định hành vi của Nguyễn Quốc K đã phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố là đúng người đúng tội.
.Về tính chất mức độ hành vi phạm tội:
Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Lợi dụng đêm tối bị cáo đã đột nhập vào nhà bị hại để lấy tài sản là 02 đện thoại di động nhằm mục đích là cất giấu để sử dụng. Bản thân bị cáo là người còn trẻ, có công vệc là phụ hồ, đáng lý bị cáo phải biết dùng sức lao động của mình để kiếm nguồn thu nhập nuôi sống bản thân. Tuy nhiên bị cáo lại lười lao động nhưng thích được hưởng thụ nên đã có hành vi lấy trộm tài sản của người khác, bị cáo biết việc lấy tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Tuy nhiên vào thời điểm phạm tội bị cáo là người dưới 18 tuổi, suy nghĩ chưa chính chắn, nhất thời nổi lòng tham nên đã phạm tội. Do đó khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét toàn diện đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
. Về tình tiết, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại và đã bồi thường cho bị hại 3.000.000 đồng để sửa chữa điện thoại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có bà nội là người có công cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dưới 18 tuổi, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại và đã bồi thường xong, bị hại không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về xử lý vật chứng: Không.
.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYEÁT ÑÒNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc K 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01(Một) năm 06 (Sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Quốc K cho Ủy ban nhân dân xã Long An, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại và đã bồi thường xong cho bị hại, bị hại không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về xử lý vật chứng: Không
5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Quốc K nộp 200.000 đồng ( Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: -TAND Tỉnh Vĩnh Long; -VKSND tỉnh Vĩnh Long; -VKSND huyện Long Hồ; -CC THADS huyện Long Hồ; -Công an huyện Long Hồ; -Nhà tạm giữ CA huyện Long Hồ; -Phòng hồ sơ CA tỉnh Vĩnh Long; -Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long; -UBND xã Long An-LH-VL; -Bị cáo; -Bị hại; -Đại diện hợp pháp của bị cáo; -Người bào chữa cho bị cáo; -Lưu hồ sơ vụ án./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Công Bằng |