- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu T, Nguyễn Đức V phạm tội trộm cắp tài sản quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 173 BLHS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hữu T, Nguyễn Đức V phạm tội “Trộm cắp t i sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2023/HS-ST Ngày: 06/7/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trƣơng Văn Chinh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trƣơng Hữu Vinh;
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Quý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk tham gia phiên tòa: Ông Y Đum Kpă - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2023/TLST-HS ngày 16/6/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HS ngày 23/6/2023 đối các với các bị cáo:
1. Họ tên: Nguyễn Hữu T; Tên gọi khác: Không; Giới t nh: Nam; Sinh ng y: 14/6/1995, tại tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi cư trú: Thôn T, xã Ea T, huyện K, tỉnh Đ; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1967 v b Đỗ Thị Mỹ D, sinh năm 1969; Vợ l Nguyễn Thị Th, sinh năm 1993 (đã ly hôn); Bị cáo có 01 người con sinh năm 2016;
Tiền sự: Không;
Tiền án: Bản án số 24/2021/HS-ST ng y 17/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đ, xử phạt Nguyễn Hữu T 01 (một) năm tù về tội trộm cắp t i sản. Ng y 09/6/2022 chấp h nh xong hình phạt tù; chưa được xóa án t ch.
Nhân thân: Ng y 28/8/2018 bị Tòa án nhân dân huyện K ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý h nh ch nh đưa v o cơ sở cai nghiện bắt buộc; chấp h nh xong vào ngày 24/11/2019;
Ng y 24/9/2020 Công an huyện K ra quyết định xử phạt vi phạm h nh ch nh về h nh vi trộm cắp t i sản;
Ng y 19/01/2021 bị Tòa án nhân dân huyện K ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý h nh ch nh đưa v o cơ sở cai nghiện bắt buộc;
Bị cáo Nguyễn Hữu T bị bắt tạm giữ từ ng y 10/4/2023 v chuyển tạm giam ng y 12/4/2023; hiện đang bị tạm giam tại Nh tạm giữ Công an huyện Krông Búk; Có mặt tại phiên to
2. Họ tên: Nguyễn Đức V; Tên gọi khác: V Muỗng; Giới t nh: Nam; Sinh ng y: 08/9/1994, tại tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi cư trú: Thôn Tân Ph, xã Ea T, huyện K, tỉnh Đ; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn M, sinh năm 1968 (đã chết); Mẹ: Hồ Thị T (tên khác: Hồ Thị T), sinh năm 1969; Tiền sự: Không;
Tiền án: Có 04 tiền án, cụ thể:
- Bản án số: 47/2012/HSST ng y 13/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện K, xử phạt Nguyễn Đức V 07 tháng 02 ng y tù, về tội trộm cắp t i sản; ng y 13/7/2012 chấp h nh xong hình phạt tù;
- Bản án số: 482/2014/HSPT ng y 28/11/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ, xử phạt Nguyễn Đức V 01 năm 06 tháng tù, về tội trộm cắp t i sản”; ng y 11/01/2016 chấp h nh xong hình phạt tù;
- Bản án số: 35/2016/HSST ng y 16/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, xử phạt Nguyễn Đức V 02 năm 06 tháng tù, về tội trộm cắp t i sản; ng y 05/7/2018 chấp h nh xong hình phạt tù;
- Bản án số: 22/2020/HS-ST ng y 08/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện K, xử phạt Nguyễn Đức V 03 năm tù, về tội trộm cắp t i sản; ng y 09/01/2023 chấp h nh xong hình phạt tù; chưa được xóa án t ch;
Bị cáo Nguyễn Đức V bị bắt tạm giữ từ ng y 10/4/2023 v chuyển tạm giam ng y 12/4/2023; hiện đang bị tạm giam tại Nh tạm giữ Công an huyện Krông Búk.
Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Bùi Thị B ch Ng, sinh năm 1990
Trú tại: Thôn N, xã Ch, huyện K, tỉnh Đ;
Có đơn xin xét xử vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn Đức Th, sinh năm 2003
Trú tại: Thôn Tân Ph, xã Ea T, huyện K, tỉnh Đ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
Vào khoảng 08 giờ 10 phút ng y 12 tháng 3 năm 2023, Nguyễn Đức V điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha-Sirius biển số 47E1-471.72 chở Nguyễn Hữu T đến trước quán tạp hóa Hoàng L, thuộc thôn N, xã Ch, huyện K, tỉnh Đ để mua nước uống. Khi mua xong, T đi ra ngo i thì phát hiện trong hộc trước xe mô tô hiệu Honda-Vision biển số 47C1-063.58 của chị Bùi Thị Bích Ng đang dựng trước tiệm tạp hóa có để 01 ví da màu nâu. Lúc này, T nảy sinh ý định trộm cắp, nên T liếc mắt nhìn về phía V ra hiệu muốn lấy trộm cái ví thì V đồng ý. V ngồi trên xe mô tô nổ máy chờ sẵn và quan sát xung quanh để cảnh giác, T lấy được cái ví da xong thì leo lên xe mô tô cùng V tẩu thoát. T và V kiểm tra bên trong cái ví da có số tiền 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng; gồm các loại tiền có mệnh giá 200.000 đồng, 100.000 đồng và 50.000 đồng). Sau đó, T và V cùng nhau tiêu xài hết số tiền trộm cắp có được, còn cái ví da thì vứt trên đường không rõ địa điểm. Sau khi bị phát hiện, biết không thể thoát tội, nên ngày 10/4/2023 Nguyễn Hữu T và Nguyễn Đức V đã đến Công an xã Ch, huyện K đầu thú, giao nộp chiếc xe mô tô biển số 47E1-471.72 và khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Kết luận định giá t i sản số 23 ng y 08/5/2023 của Hội đồng định giá t i sản thuộc Ủy ban nhân dân huyện Krông Búk kết luận: 01 v da trơn m u nâu, móc khóa kéo có chữ Lovely, trị giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng).
Về thu giữ v xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk đã thu giữ 01 xe mô tô hiệu Yamaha-Sirius, m u đen, biển số 47E1-471.xx số máy E32VE325711, số khung RLCUE3720MY061656. Kết quả điều tra xác định chiếc xe mô tô n y chủ sở hữu l anh Nguyễn Đức Th (sinh năm: 2003; nơi cư trú: Thôn Tân Ph, xã Ea T, huyện K, tỉnh Đ), l em ruột của bị cáo Nguyễn Đức V (Ngày 12/3/2023 bị cáo Nguyễn Đức V sử dụng xe đi trộm cắp anh Th không biết). Ng y 28/4/2023 chị Bùi Thị B ch Ng đã giao nộp cho Công an huyện Krông Búk 01 thẻ nhớ chứa đoạn video ghi lại sự việc trộm cắp v o ngày 12/3/2023. Quá trình điều tra đã tiến h nh truy tìm cái ví da màu nâu nhưng không có kết quả.
Về dân sự: Chị Bùi Thị B ch Ng (sinh năm: 1990; nơi cư trú: Thôn N, xã Ch, huyện K, tỉnh Đ) yêu cầu các bị cáo Nguyễn Hữu T v Nguyễn Đức V phải bồi thường số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số: 26/CT-VKS ngày 16/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk đã truy tố các bị cáo Nguyễn Hữu T, Nguyễn Đức V về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Hữu T, Nguyễn Đức V th nh khẩn khai nhận h nh vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk đã truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk sau khi phân t ch, đánh giá t nh chất, mức độ, hậu quả h nh vi của bị cáo, các chứng cứ buộc tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo v giữ nguyên to n bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố v đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Hữu T, Nguyễn Đức V phạm tội trộm cắp t i sản.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm h,s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T, Nguyễn Đức V mỗi bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù được t nh từ ng y tạm giữ, ng y 10/4/2023.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
Trả lại 01 xe mô tô hiệu Yamaha-Sirius, m u đen, biển số 47E1-471.xx số máy E32VE325711, số khung RLCUE3720MY061656. cho anh Nguyễn Đức Th là chủ sở hữu hợp pháp.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/7/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk với Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk).
- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra chị Bùi Thị B ch Ng yêu cầu các bị cáo bồi thường tổng số tiền thiệt hại l 800.000 đồng. Tuy nhiên tại đơn xin xét xử vắng mặt chị Bùi Thị B ch Ng không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
Các bị cáo Nguyễn Hữu T, Nguyễn Đức V không có ý kiến tranh luận.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o t i liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại v những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, quyết định của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng. Do đó, các h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về h nh vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa l phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, phù hợp với biên bản bắt phạm tội quả tang, biên bản xác định lại hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với các t i liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Đức V v Nguyễn Hữu T đều có tiền án về tội trộm cắp t i sản, nhưng chưa được xóa án t ch. Khoảng 08 giờ 10 phút ng y 12/3/2023, tại thôn N, xã Ch, huyện K, tỉnh Đ, Nguyễn Đức V và Nguyễn Hữu T đã lén lút trộm cắp của chị Bùi Thị B ch Ng 01 v da m u nâu trị giá 50.000 đồng, bên trong có số tiền 750.000 đồng đang để trong hộc trước của xe mô tô biển số 47C1-063.xx; tổng trị giá t i sản các bị cáo chiếm đoạt l 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng).
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã phạm tội Trộm cắp tài sản, tội phạm v hình phạt được quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự
Tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:…
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.
Đánh giá t nh chất, mức độ, hậu quả của h nh vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
H nh vi phạm tội của các bị cáo l nguy hiểm cho xã hội ảnh hưởng đến trật tự an ninh tại địa phương, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được h nh vi của mình l vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo l người nghiện ma túy và bản t nh lười lao động muốn có tiền tiêu x i cá nhân, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu t i sản, các bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của người khác, xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ.
Xét thấy đây l vụ án đồng phạm giản đơn, Bị cáo T là khởi xướng, người thực h nh, còn bị cáo V l người cảnh giới, giúp sức. Các bị cáo đều có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội trộm cắp t i sản. Bị cáo V đã bị kết án nhiều lần về tội trộm cắp t i sản nhưng vẫn tiếp tục thực hiện h nh vi trộm cắp, thể hiện coi thường pháp luật nên có tính chất nguy hiểm hơn bị cáo T, do đó Hội đồng xét xử cần xem xét quyết định mức hình phạt nghiêm khắc v phù hợp với t nh chất mức độ h nh vi cũng hậu quả của từng bị cáo gây ra. Xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo riêng v răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo Nguyễn Đức V bị cáo có 4 tiền án về tội trộm cắp t i sản. Tuy nhiên, theo tinh thần quy định tại điểm a mục 7.3 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP, ng y 12/5/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự thì “Trường hợp các tiền án của bị cáo đã được xem xét là dấu hiệu cấu thành tội phạm “đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” thì các tiền án đó không được tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm đối với bị cáo” nên bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã th nh khẩn khai báo; Các bị cáo phạm tội thuộc trường gây thiệt hại không lớn, sau khi phạm tội các bị cáo ra đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt thể hiện ch nh sách khoan hồng của Nh nước đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại 01 xe mô tô hiệu Yamaha-Sirius, m u đen, biển số 47E1-471.xx số máy E32VE325711, số khung RLCUE3720MY061656 cho anh Nguyễn Đức Th là chủ sở hữu hợp pháp, vì anh Th không có lỗi trong việc giao xe cho các bị cáo trộm cắp t i sản.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/7/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk với Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk).
. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra chị Bùi Thị B ch Ng yêu cầu các bị cáo bồi thường tổng số tiền thiệt hại l 800.000 đồng. Tuy nhiên tại đơn xin xét xử vắng mặt chị Bùi Thị B ch Ng không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án ph v lệ ph Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Hữu T, Nguyễn Đức V phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm h,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hữu T, Nguyễn Đức V phạm tội “Trộm cắp t i sản”.
Xử phạt Nguyễn Hữu T: 01 (Một) năm tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù t nh từ ng y bắt tạm giữ, tạm giam (ng y 10/4/2023)
Xử phạt Nguyễn Đức V: 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù t nh từ ng y bắt tạm giữ, tạm giam (ng y 10/4/2023)
2. Các biện pháp tư pháp:
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại 01 xe mô tô hiệu Yamaha-Sirius, m u đen, biển số 47E1-471.xx số máy E32VE325711, số khung RLCUE3720MY061656. cho anh Nguyễn Đức Th là chủ sở hữu hợp pháp.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/7/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk với Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk).
- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra chị Bùi Thị B ch Ng yêu cầu các bị cáo bồi thường tổng số tiền thiệt hại l 800.000 đồng. Tuy nhiên tại đơn xin xét xử vắng mặt chị Bùi Thị B ch Ng không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
3. Về án ph : Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án ph v lệ ph Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Hữu T, Nguyễn Đức V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án ph hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án trực tiếp liên quan đến quyền v lợi ch hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Công an huyện Krông Búk; - Cơ quan THA HS huyện Krông Búk; - VKSND huyện Krông Búk; - Chi cục THADS huyện Krông Búk; - Các bị cáo; Bị hại; - Lưu HS-VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trƣơng Văn Chinh |