vanban.org

Bản án 27/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai Tuyên án 09/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,21 gam Heroine cùng 01 mảnh giấy bạc; 01 túi nilon loại mép miết và bì niêm phong ban đầu gửi giám định được niêm phong vào một bì thư in sẵn do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai phát hành một mặt có ghi " Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giũ trong qu…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Tuấn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO THẮNG
TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 27/2023/HS-ST
Ngày 09 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lìn Thị Lài.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang Uyên và bà Trần Thị Thu Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thanh Tuyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Mai Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 09/6/2023, tại trụ sở UBND xã Sơn Hải, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T - Sinh ngày 03 tháng 6 năm 1987, tại huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn Tả Hà 3, xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Cao Cường và bà Nguyễn Thị Dạn; Vợ: Lý Thị Nòn; Bị cáo có 01 con, sinh năm 2021;

Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án. Tại bản án số 05/2008/HS-ST ngày 14/3/2008 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, xử phạt Nguyễn Văn T 03 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Buộc Tuấn phải bồi thường cho các bị hại tổng số tiền là 30.056.000đồng. Buộc Tuấn phải chịu 50.000đồng án phí HSST và 1.552.800đồng tiền án phí DSST.

Tại bản án phúc thẩm số 11/2008/HSPT ngày 07/5/2008 của TAND tỉnh Lào Cai, sửa bản án sơ thẩm số 05/2008/HSST, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.

Buộc Tuấn phải bồi thường cho các bị hại tổng số tiền là 28.743. 500đồng. Buộc Tuấn phải chịu 1.437.000đồng tiền án phí DSST. Tháng 3 năm 2013 Tuấn chấp hành xong hình phạt tù, đã thi hành xong tiền án phí HSST; được đình chỉ thi thành án khoản tiền án phí DSST là 1.437.000đồng. Về trách nhiệm dân sự tính đến thời điểm phạm tội lần này Tuấn chưa thực hiện bồi thường cho các bị hại. Do đó, tính đến ngày phạm tội lần này Tuấn chưa được xóa án tích.

Tiền sư: Bị cáo có 01 tiền sự: Tại quyết định số 188/QĐ-UBND ngày 28/9/2021 của UBND xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã Sơn Hà, đối với Nguyễn Văn T là người nghiện chất ma túy trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày 01/10/2021. Ngày 01/4/2022 Nguyễn Văn T chấp hành xong quyết định, tính đến ngày phạm tội lần này Tuấn chưa được xóa tiền sự.

Về nhân thân: Tại bản án số 71/2008/HSST ngày 25/4/2008 của TAND thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, xử phạt Nguyễn Văn T 30 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", buộc Tuấn phải bồi thường cho bị hại 36. 800.000đồng, phải chịu 50.000đồng tiền án phí HSST và 1.840.000đồng tiền án phí DSST. Tháng 6 năm 2013 Tuấn chấp hành xong hình phạt tù, đã thi hành xong tiền án phí HSST; được đình chỉ thi hành khoản tiền án phí DSST. Đối với với số tiền Tuấn phải bồi thường cho bị hại thì bị hại không có đơn yêu cầu thi hành án, đến nay đã hết thời hiệu thi hành án.

Tại bản án số 57/2017/HSST ngày 25/8/2017 của TAND thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, xử phạt Nguyễn Văn T 03 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", truy thu của Nguyễn Văn T 400.000đồng và buộc Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đồng tiền án phí HSST. Tháng 01 năm 2020 Tuấn chấp hành xong. Tính đến ngày phạm tội lần này Tuấn đã được xóa án tích đối với 02 bản án trên.

+ Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 25/QĐ-XPHC ngày 25/11/2021 của Công an huyện Bảo Thắng, xử phạt Nguyễn Văn T 500.000đồng về hành vi mua dâm. Ngày 26/11/2021, Tuấn đã chấp hành xong khoản tiền phạt. Tính đến ngày phạm tội lần này Tuấn đã được xóa tiền sự.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/3/2023, gia hạn tạm giữ từ ngày 27/3/2023, tạm giam từ ngày 30/3/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Thắng - Có mặt.

Người làm chứng: Phạm Văn Cường, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố Phú Thịnh 2, thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

Người chứng kiến: Ông Phạm Văn Thường, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn Tả Hà 3, xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 30 phút ngày 24/3/2023, Công an tỉnh Lào Cai phố hợp với Công an xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng, làm nhiệm vụ tại thôn Tả Hà 3, xã Sơn Hà phát hiện Nguyễn Văn T có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy đang đứng ở khu vực nhà ở nên yêu cầu kiểm tra. Tổ công tác đã mời người chứng kiến để kiểm tra, quá trình kiểm tra phát hiện tại cửa phòng ngủ của Tuấn có 01 gói được gói bên ngoài bằng giấy bạc, bên trong có chứa chất bột khô, vón cục, màu trắng, Tuấn khai nhận là ma túy loại Heroin; phát hiện trên đùi trái của Tuấn có 01 túi linon loại mép miết, trong túi này có chứa chất bột khô, vón cục, màu trắng, Tuấn khai nhận các gói nhỏ này là ma túy loại Heroin của Tuấn để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niên phong vật chứng theo quy định.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn T khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 22/3/2023, Nguyễn Văn T gọi điện thoại cho Phạm Văn Cường, sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố Phú Thịnh 2, thị trấn phố Lu, huyện Bảo Thắng hỏi Cường "có không em sang nhé" thì Cường trả lời "ừ sang chỗ đường sắt đi"(ý là Tuấn hỏi mua ma túy Heroin của Cường). Sau đó Tuấn đi sang khu vực đường sắt cách nhà Cường khoảng 200m. Tại đây Tuấn gặp Cường và lấy 200.000đồng đưa cho Cường, Cường cầm tiền rồi đưa cho Tuấn 01 túi nilon nhỏ, bên trong có chứa ma túy Heoin. Sau khi mua được ma túy, Tuấn đi thẳng về nhà cất số ma túy mua được trong phòng ngủ của mình, đến khoảng 09 giờ ngày 24/3/2023, Tuấn lấy ma túy mua được ra sử dụng, sau đó chia gói ma túy ra làm hai phần Tuấn gói bên ngoài bằng mảnh giấy bạc, phần còn lại để trong túi nilon để trên đùi Tuấn, đúng lúc này lực lượng Công an vào kiểm tra, Tuấn đánh rơi gói nhỏ ma túy Tuấn gói bằng giấy bạc xuống nền nhà, số ma túy còn lại vẫn để trên đùi. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tòa bộ vật chứng của Nguyễn Văn T.

Trên cơ sở lời khai của Tuấn ngày 24/3/2023 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lào Cai đã tiến hành khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Phạm Văn Cường. Quá trình khám xét, đã phát hiện thu giữ ma túy trong phòng ngủ của Cường, Cường khai ma túy này Cường cất giấu nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lào Cai đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phạm Văn Cường về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Kết luận giám định số 96/KL-GĐMT ngày 28/3/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận 0,29 gam chất bột khô vón cục, màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn T gửi giám định là loại chất ma túy Heroin. Cơ quan giám định đã trích mẫu 0,08 gam để giám định, hoàn lại cơ quan trung cầu 0,21 gam.

Cáo trạng số 26/CT-VKSBT ngày 29/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 249; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, tính từ ngày ngày tạm giữ 24/3/2023.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước của bị cáo Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, số se ri 359193059435842, bên trong lắp sim có số thuê bao 0356999621.

Tuyên tịch thu tiêu huỷ 0,21 gam ma túy Heroin của Nguyễn Văn T.

Đề nghị HĐXX tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn T nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 24/3/2023 Nguyễn Văn T đã có hành tàng trữ 0,29 gam ma túy Heroin, thì bị bắt quả tang. Hành vi của Nguyễn Văn T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khoẻ, hiểu biết pháp luật. Bị cáo là người nghiện ma túy và có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về tội Trộm cắp tài sản; mua bán trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân, sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương bị cáo tiếp tục phạm tội.

Vì vậy cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có một tình tiết tăng nặng quy định tai Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo có 01 tiền án; 01 tiền sự và có nhân thân xấu, sau khi chấp hành án trở về địa phương bị cáo không lấy đó là bài học để cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội mà tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này là tái phạm, vì vậy cũng cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sông xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T 01 căn cước công dân số 010087014642 mang tên Nguyễn Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, số se ri 359193059435842, bên trong lắp sim có số thuê bao 0356999621 và 0,29 gam ma túy Heroin. Quá trình điều Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Thắng đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại thẻ căn cước cho bị cáo, vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo Nguyễn Văn T, bị cáo khai dùng để liên lạc mua ma túy, vì vậy HĐXX cần tuyên tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

Đối với 0,29 gam ma túy Heroin; cơ quan giám định đã trích mẫu và sử dụng hết 0,08 gam không hoàn lại cơ quan trưng cầu, vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết. Số Heroin còn lại 0,21 gam xét thấy không còn giá trị xử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo bị cáo không có tài sản riêng, sống phụ thuộc gia đình, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm h, Khoản 1 Đều 52; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/3/2023.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,21 gam Heroine cùng 01 mảnh giấy bạc; 01 túi nilon loại mép miết và bì niêm phong ban đầu gửi giám định được niêm phong vào một bì thư in sẵn do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai phát hành một mặt có ghi " Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giũ trong quá trình bắt quả tang Nguyễn Văn T, tại thôn Tả Hà 3, xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai ngày 24/3/2023". Mặt còn lại của bì thư có chữ ký của hai bên giao nhận, người bị bắt, hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai.

Tuyên tịch thu sung Ngân sách nhà nước của Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, số seri 359193059435842, bên trong có lắp sim số thuê bao 0356999621.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ