vanban.org

Bản án 27/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Ninh Bình Tuyên án 24/07/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/07/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 13/01/2023.

Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Bị cáo Nguyễn Văn T1 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 13/01/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HS-PT
Ngày 24 - 7- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thảo

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Đức Hiệp

Ông Phạm Thanh Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hoài Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhâm - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 35/2023/TLPT-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn T1 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2023/HS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn T1, sinh năm 1992 tại huyện G, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú thôn X, xã T, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hoá 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Trần Thị L; chưa có vợ; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 13/01/2023 đến ngày 17/01/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay (có mặt)

- Ngoài ra trong vụ án có 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T1 sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2022 đến nay. Quá trình sử dụng ma túy, T1 nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác để kiếm lời. Chiều ngày 12/01/2023, T1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35G1-049….. đi từ nhà tại thôn X, xã T, huyện G, tỉnh Ninh Bình đến khu vực đê xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Tại đây T1 gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy (loại Heroine) với số tiền 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T1 đem về nhà rồi chia số ma túy vừa mua thành 05 gói nhỏ gồm: 04 gói nhỏ được T1 gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, 01 gói nhỏ được T1 gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, lớp tiếp theo là giấy bạc màu vàng. Sau đó T1 cất giấu 05 gói ma túy dưới đầu giường trong phòng ngủ của mình nhằm mục đích sử dụng cho bản thân và bán cho người khác kiếm lời.

Khoảng 08 giờ 50 phút, ngày 13/01/2023, Nguyễn Văn T1 đang ở nhà tại thôn X, xã T, huyện G, tỉnh Ninh Bình thì Nguyễn Khắc L, sinh năm 1990 trú tại thôn L, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình sử dụng số điện thoại 0779.374.2… gọi điện và nhắn tin đến số điện thoại 0355.140.0.. của T1 hỏi mua 600.000 đồng tiền ma túy (loại Heroine), T1 đồng ý và hẹn L đến trục đường thôn X, xã T, huyện G, tỉnh Ninh Bình để bán ma túy cho L. Sau khi điện thoại cho T1 xong, L1 rủ Nguyễn Cơ T2, sinh năm 1980, trú tại phố T, thị trấn M, huyện G, tỉnh Ninh Bình cùng nhau góp tiền để mua túy cùng sử dụng. Sau đó T2 điều khiển xe mô tô chở L đến điểm hẹn gặp T1. Khi gặp T1, L nói “bán cho em sáu trăm”, ý L hỏi mua 600.000 đồng ma túy, loại Heroine. T1 nói chỉ có quả 500.000 đồng thôi, L đồng ý mua và đưa cho T1 500.000 đồng, T1 cầm tiền và đưa cho L 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, L mở ra kiểm tra xác định đó là ma túy, loại Heroine nên đã gói lại và lên xe để T2 chở đi đến khu vực nghĩa trang xã P, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Tại đây L chia gói ma túy thành 02 phần, 01 phần L gói vào mảnh giấy bạc màu trắng rồi đưa cho T2, T2 cầm gói ma túy và điều khiển xe đi về. L ở lại lấy số ma túy vừa mua còn lại ra sử dụng bằng hình thức hít. Đến 09 giờ 40 phút cùng ngày khi L vừa sử dụng xong gói ma túy thì bị lực lượng Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình kiểm tra trên địa bàn phát hiện. Thu giữ của L 01 bật lửa gas vỏ bằng nhựa màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc màu trắng xám; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen đã qua sử dụng, lắp số thuê bao 0779.374.2…. Sau đó lực lượng công an đưa L về trụ sở Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Ninh Bình để làm việc.

Đến khoảng 11 giờ 00 phút ngày 13/01/2023, tổ công tác Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình phối hợp với Công an xã P làm nhiệm vụ tuần tra tại đường 477B đoạn qua thôn V, xã P, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Lúc này Nguyễn Văn T1 đang dừng xe gần khu vực trạm bơm xã P, huyện G, tỉnh Ninh Bình để bán ma túy cho một người T1 không quen biết, gọi cho T1 qua số 0774.385.9…. Khi phát hiện thấy tổ công tác, lo sợ bị phát hiện hành vi cất chất ma túy để bán trái phép, T1 đã tự nguyện lấy ra 02 gói ma túy được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng và giao nộp cho lực lượng Công an. Lực lượng công an mở ra kiểm tra bên trong cả 02 gói nhỏ đều có chất bột dạng cục màu trắng. T1 khai nhận đó là 02 gói ma túy, loại Heroine, T1 cất giấu nhằm mục đích bán cho người có số điện thoại 0774.385.9… để kiếm lời.

Ngoài ra Công an còn thu giữ của T1 số tiền 500.000 đồng (gồm 03 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xphone loại bàn phím đã qua sử dụng, lắp số thuê bao 0355.140.0… và 01 xe mô tô biển kiểm soát 35G1-049….. Sau đó lực lượng công an đưa Nguyễn Văn T1 cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Ninh Bình để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T1 tại thôn X, xã T, huyện G, tỉnh Ninh Bình, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình phát hiện và thu giữ tại phòng ngủ của T1 02 gói nhỏ gồm: 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng; 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, lớp tiếp theo là giấy bạc màu vàng. Bên trong cả 02 gói nhỏ đều có chất bột dạng cục màu trắng, T1 khai nhận đó là 02 gói ma túy, loại Heroine, T1 cất giấu tại phòng ngủ nhằm mục đích bán cho người khác để kiếm lời.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình đã tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong 04 gói thu giữ của Nguyễn Văn T1 có khối lượng cụ thể như sau: 02 gói thu giữ trong quá trình phát hiện bắt quả tang, gói thứ nhất có khối lượng là 0,199 gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M1; gói thứ hai có khối lượng là 0,184 gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M2; 02 gói thu giữ tại nơi ở của T1, gói thứ nhất có khối lượng là 0,230 gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M3; gói thứ hai có khối lượng là 0,216 gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M4 để gửi đi xác định khối lượng và giám định chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 121/KL-KTHS-MT ngày 16/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định có ký hiệu M1 có khối lượng 0,1975 gam; M2 có khối lượng 0,1790 gam; M3 có khối lượng 0,2290 gam; M4 có khối lượng 0,2147 gam. Tổng khối lượng chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu từ M1 đến M4 là 0,8202 gam. Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu từ M1 đến M4 đều là ma túy, loại Heroine. Heroine là chất ma túy thuộc Danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 32/2023/HS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2023 Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình đã xét xử và quyết định: Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 13/01/2023. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn T1 số tiền 15.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, bị cáo Nguyễn Văn T1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T1 vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo với lý do mức hình phạt bản án sơ thẩm tuyên phạt bị cáo nặng so với hành vi phạm tội của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa phúc thẩm sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T1; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 32/2023/HS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình.

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 04 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 13/01/2023. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn T1 số tiền 15.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, bị cáo Nguyễn Văn T1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đơn kháng cáo của bị cáo là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ, biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; bản kết luận giám định số 121/KL-KTHS-MT ngày 16/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 13/01/2023 tại khu vực trục đường thôn X, xã T, huyện G, tỉnh Ninh Bình, bị cáo Nguyễn Văn T1 đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy, loại Heroine cho Nguyễn Khắc L với giá 500.000 đồng. Đến 11 giờ 00 phút cùng ngày tại khu vực ven đường 477B gần trạm bơm xã P, huyện G, tỉnh Ninh Bình, bị cáo có hành vi cất giấu trái phép 02 gói ma túy có khối lượng 0,3765 gam, loại Heroine với mục đích bán cho người khác để kiếm lời thì bị tổ công tác Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình phối hợp với công an xã P, huyện G phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình còn thu giữ tại nhà bị cáo 02 gói ma túy có khối lượng 0,4437 gam, loại Heroine bị cáo cất giấu nhằm mục đích sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn T1 đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bản án sơ thẩm đã xem xét đánh giá tính chất vụ án, nhân thân của bị cáo, xem xét áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo mức hình phạt 04 năm 06 tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật. Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T1, cần giữ nguyên các quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2023/HS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình.

Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T1, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2023/HS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình;

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 13/01/2023. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng sung ngân sách Nhà nước.

2. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Bị cáo Nguyễn Văn T1 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 24/7/2023.

Cỡ chữ