- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ND Trần Thị Si T; BD Ngô C"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Si T đối với bị đơn anh Ngô C.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2023/HNGĐ-ST. Ngày: 22/5/2023 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Lộc
Ông Triệu Khánh Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng Tm gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 22/5/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 182/2022/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 11 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19/4/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Si T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp S, xã H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Ngô C, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp A, xã B, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/7/2022 (BL01) biên bản ghi lời khai ngày 18/4/2023 (BL38) cũng như quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị Si T trình bày: Chị Trần Thị Si T và anh Ngô C tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng và có đăng ký kết hôn vào ngày 15/12/2011 tại UBND xã H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng. Trong thời gian đầu vợ chồng chị T chung sống rất yên ổn, nhưng được một thời gian thì vợ chồng chị T phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong lối sống, không hợp nhau về tính cách. Cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng chị T đã ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay. Trong thời gian chung sống với nhau vợ chồng chị T có 02 người con chung: Cháu Ngô Hoàng K (giới tính: nam), sinh ngày 31/10/2012 và cháu Ngô Thị Bích T1 (giới tính: nữ), sinh năm 20/02/2021. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận phân chia. Về nợ chung: Không có.
Nay nhận thấy hạnh phúc gia đình tan vỡ, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không thành, nên chị T có yêu cầu giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Si T yêu cầu được ly hôn với anh Ngô C. Về con chung: Đối với cháu Ngô Thị Bích T1 (giới tính: nữ), sinh năm 20/02/2021 chị T yêu cầu được nuôi dưỡng và không yêu cầu anh Ngô C thực hiện cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Ngô Hoàng K (giới tính: nam), sinh ngày 31/10/2012 đã trên 07 tuổi, chị T tôn trọng ý kiến của cháu, cháu muốn sống với ai thì người đó nuôi dưỡng. Nếu con muốn sống với chị T, chị T không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Nếu con muốn sống với anh C, chị T đồng ý và không thực hiện cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết .
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh C, nhưng anh C không có văn bản gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị T, đồng thời anh C cũng không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án giải quyết chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh C; Về con chung: giao con chung Ngô Thị Bích T1 (giới tính: nữ), sinh năm 20/02/2021; Ngô Hoàng K (giới tính: nam), sinh ngày 31/10/2012 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu T1, K đủ 18 tuổi và cũng theo nguyện vọng của cháu K nếu cha mẹ không còn chung sống với nhau, cháu K có nguyện vọng sống chung với mẹ. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh C phải thực hiện cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Chị T khẳng định tự thỏa thuận phân chia. Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai cho anh C, nhưng anh C vẫn vắng mặt không có lý do, chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt chị T và anh C theo quy định của pháp luật.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 18/7/2022 chị Trần Thị Si T yêu cầu được ly hôn với anh Ngô C có nơi cư trú tại ấp A, xã B, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, thụ lý, giải quyết theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Si T, nhận thấy chị T và anh C tự nguyện sống chung với nhau năm 2011 có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 15/12/2011. Quan hệ hôn nhân của chị T và anh C không vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nhưng sau một thời gian chung sống thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do tính tình vợ chồng không còn hòa hợp với nhau thường hay xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau. Chị T nhận thấy cuộc sống chung không còn hạnh phúc, không còn tình cảm vợ chồng với anh C nên có nguyện vọng ly hôn. Chị T và anh C đã không còn chung sống với nhau khoảng từ đầu năm 2021 cho đến nay, từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh C.
Về con chung: Thời gian chung sống với nhau chị T và anh C có 02 con chung tên Ngô Thị Bích T1 (giới tính: nữ), sinh năm 20/02/2021; Ngô Hoàng K (giới tính: nam), sinh ngày 31/10/2012 hiện đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chị T có nguyện vọng được nuôi con và ý kiến trình bày của cháu K nếu cha mẹ không còn chung sống với nhau, cháu K có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Để đảm bảo cuộc sống của cháu K, cháu T1 không bị xáo trộn, để các cháu phát triển bình thường về tâm, sinh lý nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, giao cháu Ngô Thị Bích T1 (giới tính: nữ), sinh năm 20/02/2021; Ngô Hoàng K (giới tính: nam), sinh ngày 31/10/2012 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu K, T1 đủ 18 tuổi. Xét thấy, chị T hiện có việc làm, thu nhập ổn định, đảm bảo đủ điều kiện nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị T khẳng định tự thỏa thuận phân chia với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Chị T khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Si T đối với bị đơn anh Ngô C.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Si T được ly hôn với anh Ngô C.
- Về con chung: Giao con chung Ngô Thị Bích T1 (giới tính: nữ), sinh năm 20/02/2021; Ngô Hoàng K (giới tính: nam), sinh ngày 31/10/2012 cho chị Trần Thị Si T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu K, T1 đủ 18 tuổi và cũng theo nguyện vọng của cháu K nếu cha mẹ không còn sống chung với nhau cháu K có nguyện vọng được sống với mẹ.
Anh Ngô C không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Anh C không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu K, T1 của chị T thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom.
- Về tài sản chung: Chị T khẳng định tự thỏa thuận phân chia với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Chị T khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2/ Về án phí sơ thẩm: Chị Trần Thị Si T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai số 0004489, ngày 16/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, chị T đã thực hiện xong. Anh Ngô C không phải chịu án phí sơ thẩm.
3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ST (Phòng KTNV&T); - VKSND thị xã Vĩnh Châu; - Đương sự; - Chi cục TDS thị xã VC; - UBND xã H; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Dương Chiêu Hùng |