- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Từ Thị M và anh Lê Hồng S được ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2023/HNGĐ-ST Ngày: 16-03-2023 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phát Lộc
Các Hội thẩm nhân dân :
1. Ông Lê Minh Thật
2. Bà Trần Thị Út
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phụng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Mạch Văn Hiểu– Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 03 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 309/2022/TLST-HNGĐ ngày 20/12/2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 02 tháng 03 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Từ Thị M, sinh năm: 1995 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp 11, xã LN, huyện LM, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Anh Lê Hồng S, sinh năm: 1953 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp 11, xã LN, huyện LM, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo ñôn xin ly hoân ngày 15/12/2022 và quá trình tố tụng nguyên đơn chị Từ Thị M trình bày:
Chị Từ Thị M và anh Lê Hồng S tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã LN. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nhiều lần hàn gắn nhưng không được. Do mâu thuẩn vợ chồng không hàn gắn được, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị M yêu cầu được ly hôn với anh S.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Anh K, sinh ngày: 28/11/2015 hiện đang sống với anh S. Chị M đồng ý giao con cho anh S tiếp tục nuôi dưỡng, chị M không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, nên không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Lê Hồng S trình bày:
Anh Lê Hồng S và chị Từ Thị M tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã LN. Trong quá trình chung sống vợ chồng không còn yêu thương lẫn nhau và vợ chồng không còn sống chung với nhau.
Nay chị M yêu cầu ly hôn anh S đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Anh K, sinh ngày: 28/11/2015 hiện đang sống với anh S, anh S yêu cầu được nuôi dưỡng và không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại tòa hôm nay, Thẩm phán - Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng. Đối với những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử vẫn giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M; Về con chung anh S được trực tiếp nuôi dưỡng, chị M chưa phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung: Không có nên không xem xét giải quyết; Về nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết; Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Từ Thị M và anh Lê Hồng S có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Từ Thị M và anh Lê Hồng S tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào năm 2020 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị M và anh S chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nhiều lần hàn gắn nhưng không được và vợ chồng đã sống ly thân nhau. Nay chị M yêu cầu ly hôn, anh S thống nhất ly hôn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M.
Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Anh K, sinh ngày: 28/11/2015 hiện đang sống với anh S, anh S yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ khi chị M và anh S sống ly thân nhau thì cháu Lê Anh K do anh S nuôi dưỡng và cháu Lê Anh K có nguyện vọng sống với anh S. Vì vậy, để ổn định cuộc sống cho cháu Lê Anh K nên Hội đồng xét xử giao cháu Lê Anh K cho anh S tiếp tục nuôi dưỡng. Chị M chưa phải cấp dưỡng nuôi con do anh S không yêu cầu. Dành quyền thăm và chăm sóc con chung cho chị M không ai có quyền cản trở.
Về tài sản chung: Đương sự khai không có, không ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Đương sự khai không có, không ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
Đối với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Các Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Từ Thị M và anh Lê Hồng S được ly hôn.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung Lê Anh K, sinh ngày 28/11/2015, cho anh Lê Hồng S trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi Lê Anh K trưởng thành (tròn 18 tuổi). Chị Từ Thị M chưa phải cấp dưỡng nuôi con do anh Lê Hồng S không yêu cầu. Dành quyền thăm và chăm sóc con chung cho chị Từ Thị M, không ai có quyền cản trở.
3. Về tài sản chung: Đương sự tự thỏa thuận, không ai yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Đương sự khai không có, không ai yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Từ Thị M phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0006727 ngày 20/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện LM. Chị Từ Thị M đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
6. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
7. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND huyện Long Mỹ; - THA huyện Long Mỹ; - UBND xã (để theo dõi); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Nguyễn Phát Lộc |