- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
- Tòa quyết gì? thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 27 /2023/HNGĐ-ST Ngày 12-6-2023 V/v ly hôn, tranh chấp con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vũ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đời
Bà Vũ Thị Lệ Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Ngọc Tín – Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn
Trà, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham
gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Sơn Trà, thành
phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 202/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2023/QĐST-HPT ngày 19 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành Tr, sinh năm 1984
Địa chỉ: Số 226/18 đường Phạm Cự L, phường A, quận S, thành phố Đà
Nẵng; có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1990
Địa chỉ: Số 75 đường Đặng Vũ H (phòng trọ số 12), phường A, quận S,
thành phố Đà Nẵng; vắng mặt lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/11/2022, quá trình tham gia tố tụng tại Tòa
án, nguyên đơn ông Nguyễn Thành Tr trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Thanh L kết hôn vào năm
2014, có đăng ký kết hôn tại UBND phường An Hải Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại số 226/18 đường Phạm Cự L, tổ 26, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do cuộc sống xảy ra nhiều khó khăn, tính cách và quan điểm sống không hợp nhau, hay cãi vả, bà L không hòa hợp với ba mẹ chồng. Mâu thuẫn được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả, hiện cả hai đã sống ly thân không ai quan tâm cuộc sống của ai, ông không còn tình cảm với bà L nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh L.
- Về quan hệ con chung: Ông Tr xác nhận có hai con chung tên Nguyễn Gia
Ngh (Nguyễn Gia Ng), sinh ngày 27/7/2015 và Nguyễn An Nh, sinh ngày 06/3/2018. Ly hôn, ông yêu cầu giao hai con chung cho bà Nguyễn Thị Thanh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và ông tự nguyện cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 7.000.000 đồng (mỗi con 3.500.000 đồng/tháng) cho đến khi lần lượt từng con đủ 18 tuổi, ngày cấp dưỡng là ngày 10 hàng tháng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 7 năm 2023.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo
thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà L vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà phát biểu ý
kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật; Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc không tuân thủ quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà đề nghị
HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành Tr, xử cho ông Nguyễn Thành Tr được ly hôn bà Nguyễn Thị Thanh L. Giao con Nguyễn Gia Ngh (Nguyễn Gia Ng), sinh ngày 27/7/2015 và Nguyễn An Nh, sinh ngày 06/3/2018 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, ông Tr cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 7.000.000 đồng (mỗi con 3.500.000 đồng/tháng) cho đến khi lần lượt từng con đủ 18 tuổi, ngày cấp dưỡng là ngày 10 hàng tháng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 7 năm 2023. Về tài sản chung và nợ chung do ông Tr xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con ông Nguyễn Thành Tr phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem
xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn ông Nguyễn
Thành Tr với bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định
đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà L vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt bà L.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Ông Nguyễn Thành Tr và bà Nguyễn Thị Thanh L kết
hôn với nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường An Hải Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 130, ngày 22/12/2014). Hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, do đó đây là hôn nhân được đăng ký hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông Tr cho rằng sau khi
kết hôn vợ chồng chung sống tại địa chỉ số 226/18 đường Phạm Cự L, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng và trong quá trình chung sống thì có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do cuộc sống xảy ra nhiều khó khăn, tính cách và quan điểm sống không hợp nhau, hay cải vã, bà L không hòa hợp với ba mẹ chồng và từ năm 2019 cả hai đã sống ly thân không ai quan tâm cuộc sống của ai. Mặt khác qua xác minh tại nơi cư trú xác định trước đây ông Tr, bà L có sinh sống tại địa chỉ số 226/18 đường Phạm Cự L, quá trình chung sống ông bà sống khép kín, ông Tr đi làm xa thỉnh thoảng mới về nhà và hiện nay bà L cũng không còn sinh sống tại địa chỉ trên; Trong quá trình giải quyết vụ án bà L không đến Tòa án để tham gia hòa giải, không tham gia tố tụng tại phiên tòa để trình bày ý kiến điều đó thể hiện bà L không có thiện chí xây dựng hạnh phúc gia đình, không muốn níu kéo cuộc hôn nhân này. Xét thấy, mâu thuẫn giữa ông Tr và bà L đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tr, xử cho ông Nguyễn Thành Tr được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh L là phù hợp.
Về con chung: Ông Tr xác định, ông với bà Nguyễn Thị Thanh L có
hai con chung tên Nguyễn Gia Ngh (Nguyễn Gia Ng), sinh ngày 27/7/2015 và Nguyễn An Nh, sinh ngày 06/3/2018. Ly hôn, ông Tr tự nguyện giao hai con cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng.
Xét nguyện vọng của ông Tr thì thấy: Cả ông Tr và bà L đều có quyền,
nghĩa vụ đối với con chung, cũng như có quyền nuôi con; hiện tại cả hai con chung đang sống cùng bà L, được chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục phát triển ổn định. Ông Tr có nguyện vọng giao hai con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung trên 7 tuổi. Căn cứ các điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình, giao con Nguyễn Gia Ngh (Nguyễn Gia Ng) và Nguyễn An Nh cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp, đồng thời cũng bảo đảm được quyền lợi mọi mặt cho con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con, ông Tr tự nguyện cấp dưỡng nuôi mỗi con
3.500.000 đồng (7.000.000 đồng/2 con/tháng) cho đến khi lần lượt từng con đủ 18 tuổi. Ngày cấp dưỡng là ngày 10 hàng tháng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 7 năm 2023, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bên không trực tiếp nuôi con chung được thực hiện các quyền và nghĩa vụ
đối với con chung theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Tr xác định không có; bà L trong quá
trình giải quyết vụ án bà L vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với tài sản chung và nợ chung. Do vậy, về quan hệ tài sản chung và nợ chung HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi
con ông Nguyễn Thành Tr phải chịu theo quy định.
Đối với ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà,
thành phố Đà Nẵng phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39;
Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của ông Nguyễn Thành Tr
đối với bà Nguyễn Thị Thanh L.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Thành Tr được ly hôn với bà
Nguyễn Thị Thanh L (Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Thành Tr đối với bà Nguyễn Thị Thanh L nên giấy chứng nhận kết hôn số 130 do UBND phường An Hải Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 22/12/2014 không còn giá trị pháp lý).
2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Gia Ngh (Nguyễn Gia Ng), sinh
ngày 27/7/2015 và Nguyễn An Nh, sinh ngày 06/3/2018 cho bà Nguyễn Thị Thanh L trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Thành Tr tự nguyện cấp nuôi mỗi con 3.500.000 đồng (7.000.000 đồng/2 con/tháng) cho đến khi lần lượt từng con đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng là ngày 10 hàng tháng, bắt đầu từ tháng 7 năm 2023.
Bên không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyền đi lại thăm
nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung các bên đương sự có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đề cập giải quyết.
4. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn đồng) ông Nguyễn Thành Tr phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông Tr đã nộp tại biên lai thu số 0006616 ngày 20/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Án phí cấp dưỡng nuôi con ông Nguyễn Thành Tr phải chịu 300.000 đồng
(Ba trăm nghìn đồng).
Án xử công khai, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Toà án niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
| Nơi nhận : - VKSND quận Sơn Trà; - Chi cục THADS quận Sơn Trà; - UBND phường An Hải Đông, quận Sơn Trà; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ TP ĐÀ NẴNG BIÊN BẢN NGHỊ ÁN nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vũ Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đời Bà Vũ Thị Lệ Thủy HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. 226/18 đường Phạm Cự Lượng, phường An Hải Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng Đặng Vũ Hỷ (phòng trọ số 12), phường An Hải Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. 1. Về điều luật áp dụng: Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3. 2. Quyết định: Trung đối với bà Nguyễn Thị Thanh Linh. Tuyên xử: Nguyễn Thị Thanh Linh (Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Thành Trung đối với bà Nguyễn Thị Thanh Linh nên giấy chứng nhận kết hôn số 130 do UBND phường An Hải Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 22/12/2014 không còn giá trị pháp lý). sinh ngày 27/7/2015 và Nguyễn An Nhiên, sinh ngày 06/3/2018 cho bà Nguyễn Thị Thanh Linh trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Thành Trung tự nguyện cấp nuôi mỗi con 3.500.000 đồng (7.000.000 đồng/2 con/tháng) cho đến khi lần lượt từng con đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng là ngày 10 hàng tháng, bắt đầu từ tháng 7 năm 2023. nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung các bên đương sự có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung. khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự. -Về tài sản chung, nợ chung: Không đề cập giải quyết. Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3. nghìn đồng) ông Nguyễn Thành Trung phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông Trung đã nộp tại biên lai thu số 0006616 ngày 20/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. đồng (Ba trăm nghìn đồng). Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3. 4. Về quyền kháng cáo: thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Toà án niêm yết bản án. Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3. 5. Các vấn đề khác: th hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3. Nghị án kết thúc vào hồi ……. giờ ……. Phút, ngày 12 tháng 6 năm 2023. nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Vũ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Vào hồi giờ phút, ngày 12 tháng 6 năm 2023 tại phòng nghị án Tòa án Tiến hành nghị án đối với vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 202/2022/TLST- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành Trung, sinh năm 1984; địa chỉ: Số - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh Linh, sinh năm 1990; địa chỉ: Số 75 đường Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của ông Nguyễn Thành - Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Thành Trung được ly hôn với bà - Về con chung: Giao con chung Nguyễn Gia Nghĩa (Nguyễn Gia Nguyên), Bên không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyền đi lại thăm Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến 3. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm Án phí cấp dưỡng nuôi con ông Nguyễn Thành Trung phải chịu 300.000 Án xử công khai, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử |