vanban.org

Bản án 27/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Triệu Thị K được ly hôn anh Đặng Văn T.

Về con chung: Có 01 cháu: Đặng Gia N sinh ngày 04/02/2020. Xử giao cháu Đặng Gia N cho anh Đặng Văn T trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Chị Triệu Thị K không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ban an K-T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Triệu Thị K được ly hôn anh Đặng Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12-05-2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thoảng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Hoài Sơn

2. Bà Ngô Thị Hoa

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái ha gia phiên a: Ông Lộc Hồng Điệp – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 05 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 61/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 03 năm 2023 về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 04 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 05 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Triệu Thị K, sinh năm 2000 Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái (có mặt).

Ng i b o v uy n v l i ích h p ph p của nguyên đơn: Bà Lý Ngọc Kiều

- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Yên Bái (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Đặng Văn T, sinh năm 1991 Địa chỉ: Thôn K, xã V, huyện V, tỉnh Yên Bái (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Triệu Thị K trình bầy: Tôi và anh Đặng Văn T kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện. Đăng ký ngày 04 tháng 11 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 02/2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 02/2022 cho đến nay không ai quan tâm đến ai cả. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn gì nữa. Đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh T.

Về con chung: Có 01 cháu: Đặng Gia N sinh ngày 04/02/2020. Hiện nay cháu N đang ở cùng anh T. Khi ly hôn tôi và anh T đã thỏa thuận anh T nuôi con và tôi không phải cấp dưỡng nuôi con. Tôi đồng ý.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Sau khi thụ lý vụ án. Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã nhiều lần báo gọi và gửi Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T không có mặt theo các giấy tờ của Tòa án. Hiện nay hộ khẩu của anh T tại thôn K, xã V, huyện V, tỉnh Yên Bái. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các giấy tờ của Tòa án cho anh T. Ông Đặng Đăng C là bố đẻ anh T đã trực tiếp nhận và thông báo cho anh T, anh T biết việc Tòa án báo gọi đến để giải quyết việc chị Triệu Thị K xin ly hôn anh. Nhưng anh T không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án nên Tòa án không thể lấy lời khai và hòa giải theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự được.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Triệu Thị K đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Triệu Thị K được ly hôn anh Đặng Văn T. Căn cứ Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình xử giao cháu Đặng Gia N sinh ngày 04/02/2020 cho anh Đặng Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chị Triệu Thị K không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có. Về án phí: Chị K là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho chị Triệu Thị K.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự, quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Triệu Thị K được ly hôn anh Đặng Văn T.

Về con chung: Căn cứ Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình xử giao cháu Đặng Gia N sinh ngày 04/02/2020 cho anh Đặng Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chị Triệu Thị K không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị K là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho chị Triệu Thị K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp về Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của Tòa án là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập bị đơn hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tư cách người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách của người tham gia tố tụng gồm nguyên đơn, bị đơn trong vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị K và anh Đặng Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Yên Bái vào ngày 04 tháng 11 năm 2019 là hôn nhân hợp pháp. Chị K cho r ng sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 02/2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 02/2022 cho đến nay không ai quan tâm đến ai cả.Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn. Chị K xin ly hôn anh T là có căn cứ.

Tại điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: V ch ng c ngh a v th ơng yêu, chung thủy, t n tr ng, uan t m, chăm c, giúp đ nhau, c ng nhau chia s , th c hi n c c c ng vi c trong gia đình .

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Triệu Thị K và phát biểu đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Đã xác định mâu thuẫn vợ chồng xảy ra dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Chị K và anh T hiện nay đã sống ly thân nhau không ai quan tâm đến ai nữa. Từ đó có căn cứ cho r ng tình trạng hôn nhân giữa chị K và anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để xử cho chị K được ly hôn anh T là có căn cứ.

Về con chung: Có 01 cháu: Đặng Gia N sinh ngày 04/02/2020. Hiện nay cháu N đang ở cùng anh T. Khi ly hôn chị K và anh T đã tự thỏa thuận anh T nuôi con và chị K không phải cấp dưỡng nuôi con. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu N được ổn định, đầy đủ và không làm xáo trộn cuộc sống của cháu. Do vậy cần giao cháu Đặng Gia N cho anh T nuôi dưỡng. Chị K không phải cấp dưỡng nuôi con. Việc giao con chung không trái với quy định tại điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị K là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho chị Triệu Thị K.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Phần đề nghị tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Triệu Thị K là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Triệu Thị K được ly hôn anh Đặng Văn T.

2. Về con chung: Có 01 cháu: Đặng Gia N sinh ngày 04/02/2020.

Xử giao cháu Đặng Gia N cho anh Đặng Văn T trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Chị Triệu Thị K không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm con không ai được ngăn cản.

3. Về án phí: Chị Triệu Thị K được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Chị K quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Tr ng h p b n n, uyết định đ c thi h nh theo uy định tại Đi u 2 Luật thi h nh n D n thì ng i đ c thi h nh n d n , ng i ph i thi h nh n d n

c uy n tho thuận thi h nh n, uy n yêu cầu thi h nh n, t nguy n thi h nh n hoặc bị c ng chế thi h nh n theo uy định tại c c đi u 6, 7, 7a v 9 Luật thi h nh n d n . Th i hi u thi h nh n đ c th c hi n theo uy định tại đi u 30 Luật thi h nh n d n .

Cỡ chữ