- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LAI SON"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị L ;
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28-4-2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Xuân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thế Long.
2. Ông Nguyễn Thành Lam
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Việt Dũng - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 124/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 03 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2023/QĐST-HNGĐ ngày ngày 06 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị L , sinh năm 1989.
Địa chỉ: Tổ 2, thôn Đ, xã T, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
2. Bị đơn: Ông Trần Kim S , sinh năm 1989.
Địa chỉ: ấp G, xã GT, huyện Thống Nhất, Đồng Nai.
(Bà L xin vắng mặt, ông S vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn bà Võ Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị L và ông Trần Kim S kết hôn với nhau từ năm 2018, có đăng ký kết hôn, có tổ chức đám cưới, hôn nhân là tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc từ khi kết hôn đến năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên tranh cãi, bất hòa. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là bất đồng quan điểm và lối sống. Vợ chồng bà đã nhiều lần cùng nhau nói chuyện, hòa giải để hàn gắn đoàn tụ nhưng không có kết quả. Nay bà nhận thấy tình cảm với ông S không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông ông Sơn.
Về con chung: Bà L và ông S có 02 người con chung là Trần Tuệ B, sinh ngày 15/8/2018 và Trần Vĩ T, sinh ngày 04/5/2020. Khi ly hôn, Bà L yêu cầu trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, Bà L không không yêu cầu ông S phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Theo Bà L trình bày là không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Theo Bà L trình bày là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng và giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Trần Kim S đến Tòa làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Trần Kim S vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện theo đúng quy định.
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được Tòa án tống đạt quyết Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2023 nhưng ông Trần Kim S vắng mặt không lý do, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà L, ông S.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của bà L. Về con chung: Giao cháu Trần Tuệ B, sinh ngày 15/8/2018 và cháu Trần Vĩ T, sinh ngày 04/5/2020 cho Bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời ông S không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không xem xét giải quyết. Bà L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn”; bị đơn đang cư trú tại ấp G, xã GT, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự:
Ngày 16/3/2023, nguyên đơn bà Võ Thị L gửi đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Tòa án đã tiến hành tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXX - ST vào ngày 16/3/2023, thông báo cho bị đơn ông S biết phải có mặt tại Tòa án vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 06/4/2023 để tham gia phiên tòa, ông S vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa. Ngày 06/4/2023, Tòa án tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2023/QĐST-HNGĐ thông báo cho ông S phải có mặt tại Tòa án vào lúc 09 giờ 00phút ngày 28/4/2023 để tham gia phiên tòa, ông S tiếp tục vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự giải quyết vụ án theo thủ tục chung, xử vắng mặt bà L, ông S
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị L và ông Trần Đình S kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân xã G, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 152/KH ngày 17/10/2018 nên áp dụng Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Theo Bà L trình bày, sau khi kết hôn vợ chồng bà chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là bất đồng quan điểm và lối sống, từ đó dẫn đến vợ chồng nảy sinh nhiều tranh cãi, bất hòa. Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Trần Kim S đến Tòa làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông S nhưng ông vẫn vắng mặt, cho thấy ông S không muốn níu kéo cuộc hôn nhân này. Mặt khác, theo Biên bản xác minh tại địa phương cho biết: Vợ chồng bà L, ông S đã sống chung tại ấp G, xã GT, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai trong quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, có cãi vã, to tiếng còn về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn cụ thể là gì thì địa phương không nắm rõ do đương sự không trình báo. Xét thấy mâu thuẫn giữa Bà L và ông S đã thật sự trầm trọng, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc việc Bà L xin ly hôn với ông S là có cơ sở. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị L .
Về con chung: Trong quá trình sống chung, Bà L và ông S có 02 (hai) con chung là Trần Tuệ B, sinh ngày 15/8/2018 và Trần Vĩ T, sinh ngày 04/5/2020. Khi ly hôn, Bà L yêu cầu trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Bà L không yêu cầu ông S phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là trách nhiệm của cha mẹ. Khi ly hôn Bà L xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Ông S đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc, qua tham khảo nguyện vọng của cháu B, T là được ở với mẹ, hiện các cháu đang sống cùng bà L. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định và tạo điều kiện phát triển về mọi mặt của các cháu cần tiếp tục giao các cháu Trần Tuệ Băng và cháu Trần Vĩ T cho bà Võ Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông S không cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, ông S vẫn phải có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung mà không ai được cản trở thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Theo Bà L trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do ông S vắng mặt chưa có lời khai về tài sản chung, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Bà L trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do ông S vắng mặt chưa có lời khai về nợ chung, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà L phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị L ;
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị L được ly hôn với ông Trần Kim S .
2. Về con chung: Giao các cháu Trần Tuệ B, sinh ngày 15/8/2018 và Trần Vĩ T, sinh ngày 04/5/2020 cho bà Võ Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời ông Trần Kim S không cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, ông Trần Kim S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
4. Về nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
5. Về án phí: Bà Võ Thị L phải chịu tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0009096 ngày 02/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKS huyện Thống Nhất;
- UBND phường (xã) nơi cư trú;
- Lưu HS, VP, Tòa DS.
Phạm Thị Thanh Xuân
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS huyện Thống Nhất; - UBND phường (xã) nơi cư trú; - Lưu HS, VP, Tòa DS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Thanh Xuân |