vanban.org

Bản án 27/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Về hôn nhân: Ông Cao Thanh T được ly hôn với bà Nguyễn Thị O. Về con chung: Các con chung đã trưởng thành và lao động tự Tc được Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12/4/2023
V/v:"Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Hường.

2. Bà Võ Thị Thúy Phượng.

-Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen -Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hương –Kiểm sát viên.

Ngày 12/4/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 357/2022/TLST-HNGĐ ngày 02/11/2022 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/3/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Cao Thanh T –sinh năm:1978 (có mặt)

Hộ khẩu tại: Thôn L, xã P, N, Ninh Thuận.

Hiện ở: khu phố x- P-P-Ninh Thuận.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị O –sinh năm 1979 (có mặt)

Trú tại: Thôn L, xã P, N, Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn ông Cao Thanh T trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị O tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1999 và có 02 con chung tên Cao Thị Minh T–sinh năm 2000 và Cao Nguyễn Thanh P-sinh năm 2004. Nhưng đến năm 2004, ông và bà O mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Thời gian đầu vợ chồng chung sống tương đối hạnh phúc, về sau thường xảy ra cải vả, do bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên ông bỏ nhà đi từ cuối năm 2019 cho đến nay, vợ chồng không qua lại với nhau. Tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc gia đình không có nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà O. Hiện các con đã trưởng thành nên ông không có ý kiến gì. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị O trình bày: Bà đồng ý với ý kiến của ông Cao Thanh T về thời điểm chung sống, thời điểm kết hôn và về con chung. Trong quá trình vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, tuy có xảy ra cải vả nhưng chưa đến mức phải ly hôn. Từ cuối năm 2019, không biết lý vì sao mà ông T bỏ nhà đi cho đến nay, bà có hỏi nhưng ông T không trả lời. Bà thừa nhận vợ chồng không còn chung sống với nhau đã 03 năm nay, không qua lại với nhau. Trong khoảng thời gian vợ chồng sống ly thân bà cũng không qua lại bên nhà chồng. Hiện 02 con người con chung tên Cao Thị Minh T– sinh năm 2000 và Cao Nguyễn Thanh P -sinh năm 2004 đã lớn trên 18 tuổi. Khi ông T làm đơn ly hôn thì đứa con trai Nguyễn Thanh P nói với bà không muốn ba mẹ ly hôn, vì con nên bà muốn vợ chồng có cơ hội về sống đoàn tụ, bà không đồng ý ly hôn với ông T. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.

Chính quyền địa phương thôn L, xã P, huyện N-Nơi vợ chồng ông T, bà O sinh sống xác nhận: Ông T, bà O chung sống không hợp nhau, vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm, không qua lại với nhau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân luôn tuân theo pháp luật tố tụng; Nguyên đơn, bị đơn luôn chấp hành pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung đã trưởng thành, về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện N ra thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các bên đương sự tham gia đều tuân thủ theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa ông Cao Thanh T và bà Nguyễn Thị O được kết hợp trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 114 ngày 20/4/2004 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Tại biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, ông T và bà O đều thừa nhận vợ chồng chung sống không hợp nhau, đã sống ly thân 03 năm nay, không quan tâm gì đến nhau, mặc ai người nấy sống.

Xét thấy, hôn nhân của vợ chồng ông T, bà O đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông T.

Về con chung: Các con chung đã trưởng thành, lao động tự Tc được nên HĐXX không xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Căn cứ vào những phân tích trên, xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Ông T phải chịu án phí 300.000 đồng theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ: Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ: Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

2.Về hôn nhân: Ông Cao Thanh T được ly hôn với bà Nguyễn Thị O.

3.Về con chung: Các con chung đã trưởng thành và lao động tự Tc được

4.Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

5.Về án phí: Ông Cao Thanh T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002779 ngày 02/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N. ông Cao Thanh T đã nộp đủ án phí.

6.Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn -quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ