vanban.org

Bản án 27/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Thạch Thị H được ly hôn với anh Lâm Thanh H1.

2/ Về con chung: Giao cháu Lâm Hào Q, sinh ngày 02-11-2012 cho chị Thạch Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (mười tám) tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Lâm Thanh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Lâm Thanh H1 khôn…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Thạch Thị H yêu cầu ly hôn với anh Lâm Thanh H1"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Thạch Thị H được ly hôn với anh Lâm Thanh H1.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ TÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 24-3-2023.
“V/v Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hoàng Điệt.

Bà Sơn Thị Vàng Đa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 144/2022/TLST-HNGĐ, ngày 31 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị H, sinh năm 1988. (Có yêu cầu xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp TS B2, xã MT, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Anh Lâm Thanh H1, sinh năm 1991. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp ĐU, xã PM, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện lập ngày 03-8-2022 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Thạch Thị H trình bày:

Chị Thạch Thị H và anh Lâm Thanh H1 tổ chức tiệc cưới vào năm 2012 và có đăng ký kết hôn quá hạn vào ngày 02-7-2013 tại Ủy ban nhân dân xã MT, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu khi mới sống chung với nhau thì vợ chồng sống rất vui vẻ, hạnh phúc nhưng đến thời gian sau cuộc sống của vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm sống, cả hai không có tiếng nói chung. Vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không thay đổi.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị H và anh H1 có 01 (một) người con chung là cháu Lâm Hào Q, sinh ngày 02-11-2012. Hiện nay cháu Q đang sống chung chị H.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Nay chị Thạch Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lâm Thanh H1.

+ Về con chung: Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lâm Hào Q, sinh ngày 02-11-2012 cho đến khi con chung đủ 18 (mười tám) tuổi và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

+ Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Trong quá trình tố tụng, Tòa án có tống đạt thông báo thụ lý vụ án kèm theo các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp cho bị đơn anh Lâm Thanh H1 do bà Châu Thị Kim H2 là mẹ ruột anh H1 nhận thay. Bà H2 trình bày: Khi bà nhận các văn bản tố tụng của Tòa án thì bà đều thông báo cho anh Lâm Thanh H1 biết, vào dịp Tết Nguyên đán năm 2023 khi anh H1 về nhà ăn Tết bà trực tiếp giao các văn bản của Tòa án cho anh H1 thì anh H1 không có ý kiến gì đối với các yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị H. Do anh H1 bận đi làm nên không thể tham gia khi Tòa án mời.

Tại phiên tòa, vị Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đúng thành phần, thực hiện đầy đủ các thủ tục, trình tự khi xét xử vụ án. Riêng bị đơn vắng mặt không lý do là chưa chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thạch Thị H được ly hôn với anh Lâm Thanh H1. Về con chung: Đề nghị giao cháu Lâm Hào Q cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận ý kiến tự nguyện của chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt nguyên đơn chị Thạch Thị H và bị đơn anh Lâm Thanh H1. Tuy nhiên, chị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lâm Thanh H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt chị Thạch Thị H và anh Lâm Thanh H1.

. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Thạch Thị H và anh Lâm Thanh H1 tự nguyện kết hôn với nhau, tại thời điểm đăng ký kết hôn chị H và anh H1 đã đủ điều kiện kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã MT, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 02-7-2013, do vậy hôn nhân của anh, chị là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đầm ấm hạnh phúc và đã có con chung với nhau, tuy nhiên thời gian chung sống không bao lâu thì vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn dẫn đến việc chị H yêu cầu ly hôn với anh H1.

Hội đồng xét xử thấy rằng, chị Thạch Thị H và anh Lâm Thanh H1 hiện nay đã sống ly thân, mỗi người đều có cuộc sống riêng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn giữa anh, chị không thể khắc phục, cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cho chị Thạch Thị H được ly hôn với anh Lâm Thanh H1 để tạo điều kiện cho mỗi người tạo dựng cuộc sống mới.

. Về con chung: Trong quá trình chung sống chị H và anh H1 có 01 (một) con chung là cháu Lâm Hào Q, sinh ngày 02-12-2012, hiện nay cháu Q đang sống chung với chị H. Tại biên bản ghi nhận ý kiến của con chưa thành niên ngày 11-01-2023 cháu Q có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Đồng thời, hiện nay cháu Q đang sống chung với chị H nhằm ổn định, không làm xáo trộn môi trường sống của cháu Q nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014 giao cháu Lâm Hào Q cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho anh H1 không ai được quyền ngăn cản anh H1 thực hiện hợp pháp quyền này.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Thạch Thị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Do chị Thạch Thị H là người dân tộc Khmer, cư trú ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh Lâm Thanh H1 không phải chịu án phí.

. Đề nghị của Kiểm sát viên về hướng giải quyết vụ án nêu trên là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong vụ án và đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Thạch Thị H được ly hôn với anh Lâm Thanh H1.

2/ Về con chung: Giao cháu Lâm Hào Q, sinh ngày 02-11-2012 cho chị Thạch Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (mười tám) tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Lâm Thanh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Lâm Thanh H1 không ai được quyền ngăn cản anh H1 thực hiện hợp pháp quyền này.

3/ Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

4/ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Thạch Thị H được miễn nộp tiền án phí.

5/ Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ