vanban.org

Bản án 27/2023/HNGD-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lò Thị T: Chị Lò Thị T được ly hôn anh Quàng Văn L. Về con chung: Giao cháu Quàng Thị Quỳnh T, sinh ngày 02/8/2010 và cháu Quàng Đức T, sinh ngày 06/4/2015 cho chị Lò Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị T - Quàng Văn L - Ly hôn tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG ẢNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 27/2023/HNGD-ST
Ngày 14 tháng 8 năm 2023
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà: Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Hảng A Nếnh

2. Ông: Lò Văn Ngắm

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Hồng Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Minh Thu – Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 50/2023/TLST-HN&GĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị T, sinh năm 1990.

Nơi cư trú: Bản XT I, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên (Có mặt tại phiên tòa).

2. Bị đơn: Anh Quàng Văn L, sinh năm 1990.

Nơi ĐKHKTT: Bản XT I, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên.

Hiện đang chấp hành án tại: Đội 7, pT K1, TG YH cục C10, địa chỉ: xã HH, huyện PY, tỉnh Sơn La (Vắng mặt có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn Xin ly hôn đề ngày 25/5/2023, tại Bản tự khai của chị Lò Thị T ngày 06/6/2023 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lò Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Tôi (Lò Thị T) và anh Quàng Văn L làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Búng Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên vào ngày 17/11/2010. Trước khi lấy nhau hai bên tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện yêu nhau và đến với nhau không chịu sự ép buộc hay tác động từ bên ngoài. Sau khi cưới tôi và anh Quàng Văn L chuyển về sinh sống tại bản XT I, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Cuộc sống chung của vợ chồng tôi có phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống. Mặc dù mâu thuẫn giữa vợ chồng tôi đã được hai bên gia đình hoà giải, khuyên can nhiều lần nhưng không thành. Đến tháng 6/2022 thì anh Quàng Văn L bị bắt và bị Toà án nhân dân tỉnh Điện Biên xử phạt 20 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, hiện tại đang chấp hành án tại Đội 7, phân trại K1, Trại giam Yên Hạ cục C10 Bộ Công an. Nay tôi thấy không còn tình cảm vợ chồng với anh Quàng Văn L nữa, mục đích hôn nhân không đạt được để đảm bảo cuộc sống hạnh phúc sau này. Vì vậy, tôi đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Quàng Văn L.

Về con chung: Trong quá trình chung sống tôi và anh Quàng Văn L có 02 người con chung là cháu Quàng Thị Quỳnh T, sinh ngày 02/8/2010 và cháu Quàng Đức T, sinh ngày 06/4/2015, hiện nay 02 cháu đang sống cùng với tôi. Nguyện vọng của tôi về việc giải quyết con chung là sau khi ly hôn tôi nhận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung thu về: Tôi và anh Quàng Văn L không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa ngày hôm nay chị Lò Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Quàng Văn L; chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu Toà án giải quyết cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung phải trả, nợ chung lấy về không có như nội dung đơn khởi kiện và bản tự khai chị đã trình bày.

* Bị đơn: Theo nội dung Bản tự khai và giấy ý kiến của anh Quàng Văn L ngày 05/6/2023. Anh Quàng Văn L trình bày:

Về hôn nhân: Anh (Quàng Văn L) và chị Lò Thị T đã đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã Búng Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên vào năm 2010 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Đến khi tôi vi phạm pháp luật và đi chấp hành án thì phát sinh mâu thuẫn, đến nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn.

Về con chung: Anh Quàng Văn L và chị Lò Thị T có 02 người con chung là cháu Quàng Thị Quỳnh T, sinh ngày 02/8/2010 và cháu Quàng Đức T, sinh ngày 06/4/2015. Nguyện vọng của anh Quàng Văn L là hiện nay bản thân anh Quàng Văn L đang chấp hành án tại Trại giam Yên Hạ nên không có điều kiện để nuôi dưỡng và chăm sóc các con nên anh đề nghị Toà án giao 02 cho bố mẹ đẻ anh nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Có 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda AIRBLADE là tài sản chung của vợ chồng, nguyện vọng của anh là để lại chiếc xe máy trên cho 02 con.

Về tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung thu về: Anh Quàng Văn L và chị Lò Thị T không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ngày 15/6/2023 Toà án đã ra Thông báo số: 02/TB-TA về việc làm đơn phản tố đối với anh Quàng Văn L về tài sản là chiếc xe máy nhãn hiệu Honda AIRBLADE.

Ngày 28/6/2023 anh Quàng Văn L có ý kiến không đề nghị Toà án giải quyết về chiếc xe máy nhãn hiệu Honda AIRBLADE mà anh đã trình bày tại bản tự khai ngày 5/6/2023 nữa.

Ngày 23/6/2023 anh Quàng Văn L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nội dung đơn anh vẫn giữ nguyên như bản tự khai ngày 5/6/2023;, nợ chung phải trả, nợ chung lấy về Không có; còn về tài sản chung: Anh Quàng Văn L không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án:

- Tòa án đã tiến hành lấy ý kiến của cháu Quàng Thị Quỳnh T và cháu Quàng Đức T nguyện vọng của các cháu là muốn được ở với mẹ.

- Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng chị Lò Thị T và anh Quàng Văn L tại bản XT 1, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Xác minh điều kiện kinh tế của chị Lò Thị T tại bản XT 1, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên.

* Quan điểm của đại diện VKSND huyện Mường Ảng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách người tham gia tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu, tống đạt các văn bản tố tụng.

Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, thủ tục phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hôn nhân: Tuyên bố chị Lò Thị T được ly hôn anh Quàng Văn L.

Con chung: Chị Lò Thị T và anh Quàng Văn L có 02 người con chung: Cháu Quàng Thị Quỳnh T, sinh ngày 02/8/2010 và cháu Quàng Đức T, sinh ngày 06/4/2015 cho chị Lò Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Quàng Đức T, cháu Nhất đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Chị Lò Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.

- Tài sản chung, tài sản riêng, nợ phải trả, nợ lấy về: Đương sự không yêu cầu.

- Án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Chị Lò Thị T phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự, ý kiến của đại diện VKSND huyện Mường Ảng. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Ngày 30/5/2023, Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên thụ lý vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Tòa án ra Thông báo thụ lý vụ án và đã có Công văn nhờ trại giam Yên Hạ tống đạt và anh Quàng Văn L đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án. Bị đơn – Anh Quàng Văn L đã viết giấy ý kiến và bản tự khai không còn tình cảm với chị Lò Thị T.

Tòa án ra thông báo về Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đã tiến hành tống đạt theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ. Ngày 19/7/2023 chị Lò Thị T có đơn đề nghị không hòa giải tại Tòa án nên Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng tỉnh Điện Biên không tổ chức hòa giải. Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, tống đạt Quyết định theo quy định của pháp luật. Anh Quàng Văn L nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử, anh Quàng Văn L cũng viết đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh. Vì anh đang phải chấp hành án tại Trại giam Yên Hạ. Tại phiên tòa Nguyên đơn là chị Lò Thị T có mặt, bị đơn là anh Quàng Văn L vắng mặt có lý do, căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng bị đơn Quàng Văn L.

Nội dung vụ án:

* Về hôn nhân: Theo đơn Xin ly hôn đề ngày 25/5/2023, tại Bản tự khai của chị Lò Thị T ngày 06/6/2023; Lời trình bày của chị Lò Thị T tại phiên tòa và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử thấy: Chị Lò Thị T và anh Quàng Văn L tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương và đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã Búng Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên vào ngày 17/11/2010 trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện. Sau khi cưới hai vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống. Mặc dù mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị đã được hai bên gia đình hoà giải, khuyên can nhiều lần nhưng không thành. Đến tháng 6 năm 2022 thì anh Quàng Văn L bị bắt và hiện tại đang chấp hành án Đội 7, pT K1, TG YH cục C10, địa chỉ: xã HH, huyện PY, tỉnh Sơn La. Là người vợ, người mẹ khi chồng bị kết án và phải đi chấp hành án tại Trại giam Yên Hạ, chị Lò Thị T gặp phải muôn vàn khó khăn, tự mình chăm sóc con. Nguyên nhân cũng do anh Quàng Văn L mắc nghiện và bị kết án, quá trình chung sống chị cũng đã khuyên can, nhưng anh Quàng Văn L không nghe do đó vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bản thân anh Quàng Văn L đã vi phạm pháp luật. Anh Quàng Văn L trình bày từ khi kết hôn đến nay hai vợ chồng anh chị có mâu thuẫn và không còn tình cảm vợ chồng với chị Lò Thị T. Hội đồng xét xử thấy tình cảm của chị Lò Thị T, anh Quàng Văn L đối với nhau không còn, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Lò Thị T và anh Quàng Văn L đã mâu thuẫn trầm Quàng Đức T, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Lò Thị T. Tuyên xử cho chị Lò Thị T được ly hôn với anh Quàng Văn L.

* Về con chung: Chị Lò Thị T và anh Quàng Văn L có 02 người con chung là cháu Quàng Thị Quỳnh T, sinh ngày 02/8/2010 và cháu Quàng Đức T, sinh ngày 06/4/2015.

Nguyện vọng của chị Lò Thị T sau khi ly hôn, chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 cháu (Quàng Thị Quỳnh T + Quàng Đức T) đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; Về cấp dưỡng nuôi con chị Lò Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Nguyện vọng của anh Quàng Văn L là giao 02 cháu (Quàng Thị Quỳnh T + Quàng Đức T) cho bố mẹ đẻ anh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay 02 cháu (Quàng Thị Quỳnh T + Quàng Đức T) đang sống cùng mẹ từ khi vợ chồng chị Lò Thị T, anh Quàng Văn L sống ly thân, hiện nay 02 cháu (Quàng Thị Quỳnh T + Quàng Đức T) vẫn còn nhỏ, anh Quàng Văn L hiện đang đi chấp hành án nên để không gây xáo trộn về tâm lý đồng thời đảm bảo cho sự phát triển về tinh thần cũng như quyền lợi về mọi mặt của 02 cháu (Quàng Thị Quỳnh T + Quàng Đức T), phù hợp với nguyện vọng của 02 cháu cần tiếp tục giao các cháu cho chị Lò Thị T trực tiếp chăm nom, chăm sóc, giáo dục 02 cháu (Quàng Thị Quỳnh T + Quàng Đức T) đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị Lò Thị T Không yêu cầu Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

* Tài sản chung: Chị Lò Thị T và anh Quàng Văn L không đề nghị Toà án giải quyết.

* Về tài sản riêng; nợ phải trả; nợ thu về: Chị Lò Thị T và anh Quàng Văn L không có. Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

* Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Chị Lò Thị T phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch.

Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng phát biểu ý kiến hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật và nội dung vụ án, vì vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của BLTTDS 2015.

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lò Thị T: Chị Lò Thị T được ly hôn anh Quàng Văn L.

2. Về con chung: Giao cháu Quàng Thị Quỳnh T, sinh ngày 02/8/2010 và cháu Quàng Đức T, sinh ngày 06/4/2015 cho chị Lò Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lò Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.

Thời điểm giao nuôi cháu Quàng Thị Quỳnh T và cháu Quàng Đức T cho chị Lò Thị T kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Anh Quàng Văn L có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên; người thân thích; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung lấy về: Đương sự không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lò Thị T phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch. Chị Lò Thị T đã nộp đủ 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: 0009331 ngày 29/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

5. Án xử công khai sơ thẩm, kết thúc cùng ngày. Chị Lò Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/8/2023). Anh Quàng Văn L vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự; người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ