vanban.org

Bản án 27/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Lương Thị X được ly hôn anh Nguyễn Thái T.

Về con chung: Giao con là Nguyễn Bảo Tr, sinh ngày 16-01-2016 cho anh Nguyễn Thái T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Chị Lương Thị X phải cấp dưỡng nuôi con chung là 500.000 đồng/1 tháng. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày tuy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lương Thị Xiêm - Nguyễn Thái T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Lương Thị X được ly hôn anh Nguyễn Thái T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 05-4-2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thao

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Châm

Ông Hoàng Đình Văn

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Linh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn May – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 23/2023/TLST-HNGĐ ngày 01-02-2023 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03-3-2023 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa số: 09/2023/TBXX ngày 22-3-2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lương Thị X, sinh năm 1997

Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thái T, sinh năm 1996

Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

Các đương sự đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lương Thị X trình bày:

Chị và anh Nguyễn Thái T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 22-6-2016 tại UBND xã Minh Tiến, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi nhau. Mâu thuân của vợ chồng đã được hòa giải nhưng không có kết quả. Chị và anh T đã ly thân từ tháng 01-2023 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Chị X xác định tình cảm vợ chồng đã hết, chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị và anh T có một con chung là Nguyễn Bảo Tr, sinh ngày 16-01-2016 hiện đang được anh T nuôi dưỡng. Ly hôn chị đồng ý để anh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị cấp dưỡng tiền nuôi con là 500.000 đồng/1 tháng.

Về chia tài sản chung, nợ chung : Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Thái T trình bày:

Anh và chị Lương Thị X tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 22-6-2016 tại UBND xã Minh Tiến, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi nhau. Mâu thuân của vợ chồng đã được hòa giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 02-2023 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Anh T xác định tình cảm vợ chồng đã hết, anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh và Chị X có một con chung là Nguyễn Bảo Tr, sinh ngày 16-01-2016 hiện đang được anh trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu Chị X phải cấp dưỡng tiền nuôi con là 500.000 đồng/1 tháng.

Về chia tài sản chung, nợ chung : Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

+ Về hôn nhân: Chị Lương Thị X được ly hôn anh Nguyễn Thái T.

+ Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Bảo Tr, sinh ngày 16-01-2016 cho anh Nguyễn Thái T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.

Chị X có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 500.000 đồng/1 tháng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.

+ Về án phí: Chị X phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và anh phí dân sự về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn anh Nguyễn Thái T có nơi cư trú tại xã Minh Tiến, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

Tại phiên tòa, Chị X và anh T đều vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về hôn nhân: Chị Lương Thị X và anh Nguyễn Thái T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Minh Tiến, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái ngày 22-06-2016 là hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của các đương sự, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu mẫu, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống. Chị X và anh T đã ly thân không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa Chị X và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị X, cho Chị X được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị X và anh T có một con chung là Nguyễn Bảo Tr, sinh ngày 16-01-2016 hiện đang được anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn các đương sự đều nhất trí anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung của anh T là phù hợp với quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con được quy định trong luật Hôn nhân và gia đình cũng như ý kiến của các đương sự. Hiện Chị X và anh T đã ly thân, con chung đang được anh T trực tiếp nuôi dưỡng, cháu Nguyễn Bảo Tr cũng nguyện vọng được ở cùng bố. Do đó, để đảm bảo quyền, lợi ích, nguyện vọng và sự ổn định cuộc sống của con nên giao con chung cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự thống nhất Chị X sẽ cấp dưỡng tiền nuôi con là 500.000 đồng/1 tháng. Xét thấy việc thống nhất về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng của các đương sự là phù hợp với nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con được pháp luật quy định nên được chấp nhận. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị X, anh T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị X phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và án

phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Chị Lương Thị X được ly hôn anh Nguyễn Thái T.

2. Về con chung: Giao con là Nguyễn Bảo Tr, sinh ngày 16-01-2016 cho anh Nguyễn Thái T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.

Chị Lương Thị X phải cấp dưỡng nuôi con chung là 500.000 đồng/1 tháng. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa khi thi hành án xong thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Chị X có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lương Thị X phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Chị X được trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ly hôn đã nộp theo biên lai số: AA/2021/0003427 ngày 01-02-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Chị X còn phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ