- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Cao Thị Xuân D đối với ông Nakano H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2023/HNGĐ-ST Ngày 28-4-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hà Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đặng Thị Liễu
Ông Đặng Công Thắng
- Thư ký phiên tòa: Ông Từ Văn Hoàng Lĩnh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Ngô Văn Hùng - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 29/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Cao Thị Xuân D; sinh năm 1979; cư trú tại: Đường T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nakano H; sinh năm 1963; cư trú tại: M City, K, Nhật Bản. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Cao Thị Xuân D, trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Sau khi được bạn bè giới thiệu thì bà và ông Nakano H đã liên lạc tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng vào ngày 25-01-2008. Kết hôn tại Việt Nam xong thì ông Nakano H chỉ ở được với bà khoảng nửa tháng rồi trở về Nhật Bản làm việc; hàng năm thì ông Nakano H vẫn về Việt Nam thăm bà từ một đến hai lần. Tuy nhiên, từ năm 2015 thì ông Nakano H không còn liên lạc và về Việt Nam nữa. Nay bà xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông Nakano H nên xin được ly hôn.
- Về con chung: Bà và ông Nakano H có 01 con chung tên Trung Dã Quỳnh G; sinh ngày 10-9-2009. Ly hôn bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông Nakano H cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà và ông Nakano H không có tài sản và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nakano H không có văn bản phản hồi cho Tòa án về yêu cầu xin ly hôn của bà D, cũng như không đến tham gia tố tụng tại Tòa án.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, là tuân thủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 126 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho bà Cao Thị Xuân D được ly hôn với ông Nakano H và giao con chung Trung Dã Quỳnh G; sinh ngày 10-9-2009 cho bà D được trực tiếp nuôi.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Nguyên đơn bà Cao Thị Xuân D là công dân Việt Nam; có địa chỉ cư trú tại Đường T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam và bị đơn ông Nakano H, có quốc tịch Nhật Bản đang cư trú tại địa chỉ M City, K, Nhật Bản, nên vụ án về ly hôn thuộc thẩm quyền chung của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, Việt Nam, theo quy định tại các Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, Điều 464 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc cấp tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài là bị đơn ông Nakano H bằng đường ngoại giao theo pháp luật tương trợ tư pháp. Cụ thể, Tòa án đã ủy thác cho Cơ quan có thẩm quyền của Nhật Bản cấp tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà D đối với ông Nakano H và yêu cầu ông Nakano H gửi văn bản phản hồi cho Tòa án; đồng thời, thông báo về thời gian, địa điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; cũng như thông báo về thời gian, địa điểm mở phiên tòa, theo quy định tại Điều 474 và Điều 476 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngày 17-01-2023, Cơ quan có thẩm quyền của Nhật Bản là Phòng Dân sự, Tòa án địa phương Takamatsu đã tống đạt trực tiếp văn bản của Tòa án cho ông Nakano H. Trong quá trình giải quyết vụ án thì ông Nakano H không đến Tòa án để tham gia tố tụng, cũng như không gửi lời khai, tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Tại phiên tòa lần thứ nhất thì ông Nakano H cũng không có mặt nên Tòa án đã hoãn phiên tòa, theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa mở lần thứ hai ông Nakano H vẫn không có mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án, theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà D đối với ông Nakano H thì thấy, sau khi kết hôn thì vợ chồng mỗi người sống một nơi, không cùng chung sống với nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình, nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Từ năm 2015 đến nay ông bà không còn gặp, liên lạc với nhau nữa và Diệu xác định là tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được do đó yêu cầu xin ly hôn ông Nakano H của bà D là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.
Về con: Bà D và ông Nakano H có 01 con chung tên Trung Dã Quỳnh G; sinh ngày 10-9-2009. Ly hôn, bà D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi và không yêu cầu ông Nakano H phải cấp dưỡng cho con; về phía ông Nakano H thì không có ý kiến thể hiện yêu cầu của ông về nuôi con; về phía cháu Giao thì có nguyện vọng được ở với mẹ là bà D. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Giao cho bà D trực tiếp nuôi và không buộc ông Nakano H cấp dưỡng cho con, là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà D và ông Nakano H không có tài sản chung; không có nợ chung, nên Tòa án không đề cập giải quyết.
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình và chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài bà D phải chịu, theo quy định tại Điều 147 và Điều 153 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về phí thực tế phát sinh ủy thác tư pháp ra nước ngoài: Cơ quan có thẩm quyền của Nhật Bản không thu phí nên hoàn trả cho bà Cao Thị Xuân D 3.000.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0005006 ngày 13-7-2022 của Cục thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 153, Điều 464, Điều 469 và Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Cao Thị Xuân D đối với ông Nakano H.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Cao Thị Xuân D được ly hôn với ông Nakano H
2. Về con: Giao con chung tên Trung Dã Quỳnh G; sinh ngày 10 tháng 9 năm 2009 cho bà Cao Thị Xuân D trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, ông Nakano H và bà Cao Thị Xuân D có các quyền và nghĩa vụ đối với con theo quy định tại các Điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Bà Cao Thị Xuân D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004976 ngày 17-6-2022 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng; bà D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài: Bà Cao Thị Xuân D phải chịu 200.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài 200.000 đồng theo biên lai số 0005007 ngày 13-7-2022, của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng; bà D đã nộp đủ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.
5. Về phí thực tế phát sinh ủy thác tư pháp ra nước ngoài: Bà Cao Thị Xuân D không phải chịu, hoàn trả cho bà Cao Thị Xuân D 3.000.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0005006 ngày 13-7-2022 của Cục thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Cao Thị Xuân D có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn ông Nakano H không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TP. Đà Nẵng; - UBND TP. Đà Nẵng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Ngô Hà Nam |